Theo Bác Sĩ Michael Gershon, tác giả cuốn “The Second Brain” và cũng là giáo sư Khoa Trưởng khoa Cơ Thể Học & Sinh Hóa Tế Bào (department of Anatomy & Cell Biology) tại đại học Columbia, New York, sự liên quan giữa não bộ và bộ phận tiêu hóa rất mật thiết. Ông Gershon cho rằng bộ phận tiêu hóa (phần chính là dạ dày & ruột non, đôi khi cả thực quản) là một não bộ thứ nhì, vì bộ phận tiêu hóa trong cơ thể con người cũng bị rối loạn in như não bộ khi ta phiền muộn, đau khổ.
Thực ra, bộ phận tiêu hóa được điều khiển bởi hệ thần kinh tiêu hóa (enteric nervous system) nằm lẩn khuất trong những lớp mô lót thực quản, dạ dày, ruột non và ruột già. Nếu ta đã từng xao xuyến, bất an, hồi hộp khi phải nói chuyện hoặc xuất hiện trước đám đông, một hiện tượng mà người Huê Kỳ gọi nôm na là “butterflies in the stomach”, và ta sẽ diễn tả rằng “lòng dạ nôn nao khó chịu”. Một vài người khác sẽ bảo rằng có cảm giác buồn nôn vì quá hồi hộp, hoặc cảm thấy đau bụng vì quá xao xuyến… Nói chung, những cảm giác này được giới y học giải thích là do “stress hormones” (các nội tiết tố xuất hiện trong cơ thể do áp lực của đời sống) được tiết ra giúp cơ thể đáp ứng với môi trường chung quanh, chống đối hoặc chạy trốn, “fight or flight”. Những nội tiết tố này kích thích hệ thần kinh dẫn đến thực quản, khiến thực quản co thắt khiến ta cảm thấy nghẹn hoặc ngạt thở, hoặc hệ thần kinh dẫn đến dạ dày làm ta nôn nao, buồn nôn hoặc ói mửa khi hồi hộp, xao xuyến quá mức.
Công việc chính của hệ thần kinh tiêu hóa là điều hành (một cách nhịp nhàng thứ tự) việc tiêu hóa thức ăn, uống từ thực quản, dạ dày, ruột non cho đến ruột già qua một hệ thống “tuần tra” tinh vi với các chất dẫn truyền (neurotransmitters) và chất đạm (protein) ngay trong những bộ phận này. Hệ thần kinh tiêu hóa dường như “tự động”, không qua sự điều khiển trực tiếp của não bộ; và lưu trữ một số tác động đã định sẵn (programmed behavior). Ở mỗi giai đoạn tiêu hóa, những hoạt động đã định được sử dụng theo thứ tự.
Thí dụ, khi ta bỏ ăn bữa trưa, hệ tiêu hóa không có việc gì để làm nên ở trạng thái “tĩnh”. Lúc ăn một khúc bánh mì thịt, sau khi nhai và nuốt, sự co thắt của các cơ trơn trong thực quản, rồi dạ dày, rồi ruột non tuần tự xảy ra, kết quả là thức ăn được trộn lẫn với phân hóa tố (enzyme), acid, “bẻ” ra từng mảnh nhỏ, đưa đến màng ruột non để chất dinh dưỡng ngấm vào máu. Khi ăn phải những miếng thịt thiu thối, cũng như cơ trơn này co thắt, nhưng để đẩy những thức ăn đã hư hỏng ngược trở lại, ra ngoài cơ thể, phản xạ ói mửa, cùng với tất cả những thứ khác đã nằm sẵn trong dạ dày kể cả acid, và đôi khi mật đắng. Trong mỗi thí dụ đan cử, hệ tiêu hóa đều phải thẩm định, chọn hành động, rồi bắt đầu một phản xạ dây chuyền rất mau lẹ, và không qua sự điều khiển của não bộ.
Bác Sĩ JN Langley là người đầu tiên đã chú tâm đến hệ thần kinh tiêu hóa. Năm 1921, ông Langley đã ghi nhận rằng cơ thể con người có ba hệ thần kinh ‘sympathetic’, ‘parasympathetic’ và ‘enteric nervous sytems’ kiểm soát những công năng ‘tự động”, không cố ý (involuntary behavior) như tim đập, máu luân lưu… Sau khi Bác Sĩ Langley qua đời, các lập thuyết về hệ thần kinh tiêu hóa dường như bị bỏ quên, chẳng mấy ai nhắc nhở đến. Cho đến những năm 1980, giới y học mới bắt đầu ghi nhận sự khám phá của Bác Sĩ Langley về hệ thần kinh tiêu hóa và vai trò của neurotransmitter (chất dẫn truyền của não bộ) như serotonin tại hệ tiêu hóa.
Trong khi giới y học thừa nhận sự liên hệ mật thiết giữa sự đau khổ về tinh thần (emotional stress) và sự đau đớn thể xác (physical distress), câu hỏi lớn nhất vẫn là sự đau đớn nào đến trước? và khởi đầu chuỗi phản ứng của cơ thể?
Hệ thần kinh tiêu hóa và hệ thần kinh tại não bộ cùng sử dụng bây nhiêu thứ “máy móc” (the body hardware) nhưng để điều khiển những bộ phận (khác nhau) trong cơ thể. Serotonin (happy hormone) là phần cốt yếu của cảm giác thơ thới, bình an. Một số dược phẩm có thể gia tăng lượng serotonin trong não bộ, nên được dùng để chữa trị chứng trầm cảm (depression). Tuy nhiên, 95% lượng serotonin trong cơ thể lại được lưu trữ, cất giữ tại hệ tiêu hóa nơi nội tiết tố này có công dụng của một neurotransmitter, đưa tín hiệu của hệ thần kinh đến những thần kinh hoặc bộ phận khác.
Sự tiêu hóa được bắt đầu từ một nhóm tế bào đặc biệt, enterochromaffin, tiết ra serotonin; ở những tế bào của hệ tiêu hóa có ít nhất là 7 loại thụ thể (receptors) khác nhau để tiếp nhận serotonin. Những thụ thể này liên lạc với những tế bào thần kinh tại hệ tiêu hóa để kích thích sự co thắt của các cơ trơn cũng như điều tiết các phân hóa tố trong chuỗi phản ứng dây chuyền kể trên để tiêu hóa thức ăn, uống.
Serotonin còn có vai trò của người “môi giới”, luôn “báo tin” cho não bộ biết những gì đang xảy ra tại hệ tiêu hóa, sự liên lạc hầu như chỉ có “một chiều” (one-way communication) với 90% tin tức gửi đi từ hệ tiêu hóa. Một số hóa chất trị ung thư kích thích tế bào enterochromaffin tiết ra serotonin, do đó gây buồn nôn và ói mửa.
Gần đây, giới y học tìm ra một vai trò khác của Serotonin trong chứng irritable bowel syndrome (IBS); một chứng bệnh gây đau bụng liên tục, ăn không tiêu, ợ chua, táo bón luân chuyển với tiêu chảy mặc dù mọi kết quả thử nghiệm về hệ tiêu hóa vẫn bình thường trong khi người bệnh khổ sở, suy nhược vì ăn không ngon ngủ không yên. Trước đây vì không biết nguyên nhân và kết quả thử nghiệm bình thường, giới y học đã kết luận rằng IBS là một chứng bệnh tâm thần. Ngày nay, người ta công nhận rằng IBS, tương tự như bệnh trầm cảm, là do serotonin không hoạt động bình thường. Với chứng IBS, người bệnh có quá nhiều serotonin tại hệ tiêu hóa.
Thông thường, sau khi khởi đầu chuỗi phản ứng tiêu hóa, serotonin được mang ra khỏi hệ tiêu hóa bằng một phân tử có tên là “serotonin transporter”, SERT, tại những tế bào trong màng dạ dày và ruột non, đưa trở lại nơi dự trữ. Những người bị chứng IBS không có đủ lượng SERT, do đó, lượng serotonin lên cao tại hệ tiêu hóa gây tiêu chảy. Khi lượng serotonin lên quá cao, sẽ tràn ngập các thụ thể và ngưng hẳn hệ thống serotonin, lại gây táo bón.
Một lý do khác khiến hệ tiêu hóa không hoạt động bình thường là do mast cells, những tế bào quan trọng trong hệ miễn nhiễm (immune function). Khi cơ thể bệnh hoạn, bị chấn thương hoặc nhiễm trùng, “hàng rào phòng thủ” (barrier) của hệ tiêu hóa không còn hoạt động mạnh mẽ, và những chất (lẽ ra bị đào thải) sẽ ngấm vào máu qua hệ tiêu hoá. Mast cells bị tác động sẽ tiết ra histamin và những chất khác để kích thích hệ tiêu hóa đào thải những chất thải này và gây tiêu chảy trầm trọng.
Khoa học ngày nay hiểu biết khá nhiều chức năng của hệ thần kinh tiêu hóa, sự liên hệ giữa hệ thần kinh tiêu hóa và não bộ cũng như vai trò của các neurotransmitters, nên con người nhìn nhận sự quan trọng và ảnh hưởng của tâm thần đến cơ thể.
Đã có nhiều tài liệu cho rằng hoàn cảnh sinh sống khó khăn lúc thơ ấu sẽ gây những chứng bệnh về tiêu hóa kinh niên khi trưởng thành. Đáng kể nhất là những thử nghiệm về chuột, sau khi những con chuột bị trấn nước, lúc vớt lên và cho nghỉ ngơi, hầu hết mọi con chuột trong cuộc thử nghiệm đều bị tiêu chảy mặc dù trước đó, những con chuột này hoàn toàn khoẻ mạnh. Một thí nghiệm khác, khi chuột con bị tách rời chuột mẹ, những lớp màng ruột bị mỏng đi và nhiều loại vi trùng có thể xâm nhập vào thành ruột, kích thích hệ miễn nhiễm tại ruột và mast cells, tạo ra phản ứng tương tự như những triệu chứng ta quan sát từ bệnh nhân.
Chuyên khoa tiêu hóa đã ghi nhận rằng 70% bệnh nhân với những chứng bệnh tiêu hóa kinh niên đã trải qua một thủa niên thiếu khó khăn, và họ cho rằng những kinh nghiệm sống này đã ảnh hưởng lâu dài đến hệ miễn nhiễm. Khi gặp nguy hiểm, cơ thể lại phản ứng theo bản năng cũ, bằng sự tác động mast cells, và các neurotransmitters. Bệnh nhân do đó bị đau bụng tiêu chảy mỗi khi trải qua một giai đoạn khó khăn trong đời sống.
Các tài liệu kể trên cho thấy tâm (thần) và thân (thể) liền lạc với nhau chặt chẽ vô cùng, một bộ óc mệt mỏi, buồn rầu hay sân hận thường đi đôi với một cơ thể bạc nhược, đau ốm. Ông bà ta đã biết sự việc này từ xa xưa nhưng gần đây khoa học mới chứng minh rõ ràng và chi tiết những gì xảy ra trong cơ thể!
TLL









