“…Chỉ là những câu chuyện vụn vặt được chắp nối qua những mảnh đời dân quê miệt kinh rạch hầu san sẻ cùng bạn trẻ, những người chưa hoặc không có dịp sống gần gũi với dân ruộng về các miền kinh rạch ấy như một nét đặc thù của văn minh Việt bên cạnh một nếp “văn minh miệt vườn” khá sung túc, trù phú…” (Hai Trầu Lương Thư Trung).

Luôn tự nhận mình là một “người nhà quê”, nhưng ai cũng hiểu là cách nói khiêm cung của một học giả, kiến thức quảng bác, như bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc trìu mến nhận định “Nó là văn chương miệt vườn. Sau này muốn biết về miền Nam mưa nắng hai mùa ra sao thì phải đọc Sơn Nam và Hai Trầu thôi.”.

Mời bạn cùng chúng tôi dạo chơi cùng mưa nắng miền Nam…

(tiếp theo)

Lớn nhỏ

Kinh xáng Bốn Tổng ngày… tháng 12 năm 2003 

  

Thưa thầy Nguyễn Hưng Quốc, 

Thật là hú vía hú hồn, lá thư trước tui viết gởi qua cho thầy cùng bàn thêm vài chữ hay dùng ở nhà quê tui, thầy đã nhận được mà không thấy thầy trách hờn gì, quả thiệt tui mừng quá mạng. Vậy mà rồi, thư đi tin đã tới, nhưng sao trong bụng tui vẫn chưa yên về vài ba cái suy nghĩ vụn vặt về sách vở xưa nay, mà ở dưới quê này không biết ngỏ cùng ai, nên tui lại biên thư này qua nhờ thầy gỡ rối tơ vò giùm, may ra tui mới yên tâm vót nan đương bậy mấy cái rổ, cái xề xài lặt vặt trong nhà. 

Bà già trầu nhà tui thấy tui lọ mọ viết viết bôi bôi bả lại dặn: “Ông đừng viết thơ ý kiến ý cò với thầy Quốc nữa, kẻo thầy giận, rồi đâm ra có chuyện mích lòng. Mình dân quê mà đi bàn chữ nghĩa với thầy chẳng khác nào tay ngang múa rìu qua mắt thợ, người ta cười cho mà biết thân.” 

Nghe vợ tui nói vậy, tui mới hớp một hớp trà nóng mà tâm sự lại rằng: “Bà còn nhớ trong Nam Hoa Kinh của Trang Tử nhắc đến chim cưu và chim bằng khi nói về cái lớn cái nhỏ hông? Thầy Quốc là bậc đại trí. Mà người đại trí phải có lòng bao dung đại lượng thì mới viết sách thành tác phẩm lớn được. Chứ đâu có như tui với bà là hạng nhà quê ruộng rẫy chưn đất chưn phèn, quanh năm chỉ nhìn thấy rặng tre, bụi cỏ mần trầu bên chái hè, chỉ kiếm được con cua con ốc là mừng. Bậc đại trí không ai đi hờn giận một ông già nhà quê gần tám chục tuổi mà còn muốn học hỏi thêm như tui. Phải hông bà?”  

Nghe tui nói vậy vợ tui có vẻ yên tâm ngồi ngoáy trầu bên cái bàn tròn kê gần bếp un đang nghi ngút khói. Mùi khói từ những gốc cây mục trong cái cà ràng quyện trong căn nhà cũ từ hồi ông nội tui còn bình sanh cất để lại, gây gây mùi nhớ một thủa ông cha tui dạy học chữ Nho trong căn nhà cổ kính này mà lâng lâng một nỗi niềm thương cảm.  

Rồi tui lại nhớ hồi năm kia, chú Trường Đinh bên Ăng- Lê dìa ghé kinh xáng thăm tui, có hỏi tui về “tác phẩm lớn nhỏ”. Kỳ đó tui nhờ chai rượu nếp than, mà tránh được câu hỏi hóc búa ngoài nghề.  

Rồi tới kỳ mới gần đây thôi, có chú Tám Thanh, bà con cô cậu họ với tui, quê quán ngoài Mũi Né, tỉnh Phan Thiết, xa quê có tới gần ba mươi năm, giờ sống đâu tuốt miệt Quincy, Quin-xiếc gì bên Mỹ, cũng mới vừa về thăm tui tháng trước, lại cũng hỏi câu hỏi tương tự. Rồi cũng làu thông kinh sách, chú Tám Thanh lại nhắc “chim cưu, chim bằng”. Tui thấy cũng là lạ, rồi tự hỏi, không biết từ hồi có lời bàn của Trang Tử tới giờ bộ không có ai khác lấy cái gì để so sánh về “cái lớn cái nhỏ”, về bậc “tiểu trí và đại trí” sao?  

Thầy Quốc ơi, bí quá không biết sao, cầm ly rượu đế nâng lên chúc mừng chú Tám Thanh 4 lần cắt bớt bao tử mà vẫn còn sống nhăn, ráng mò xuống thăm tui tận nơi chốn khỉ ho cò gáy này, tui mới hớp một hớp cho thấm giọng rồi mới đưa ngón tay trỏ chỉ về hướng Ba Thê, Núi Sập mà to nhỏ với chú Tám rằng: “Chú Tám thấy hông, hồi xưa cánh đồng từ đây chạy tuốt lên Chắc Cà Đao, Mặc Cần Dưng, Hang Tra, Trà Kiết, Luỳnh Huỳnh là miệt trên thuộc vùng Bốn Tổng này; rồi chạy tuốt xuống Cái Sắn, Thóc Nóc, Tân Hiệp, Cờ Đỏ, Rạch Giá đồng ruộng bao la là nhờ hồi trước làm lúa mùa, mỗi năm chỉ vỏn vẹn một mùa, ở đây dân quê tui gọi là “đồng lớn”, cò bay thẳng cánh, chó chạy vổng đuôi. Còn bây giờ, chú thấy hông, giỏi lắm mình nhìn thấy tới kinh Đòn Dông, hoặc tới Ba Bần là bị khuất con mắt rồi. Bây giờ chỉ còn ruộng manh, ruộng xẻo, ruộng chéo, ruộng bờ, tức là những miếng đất lớn bị chia manh xẻ mún nhiều bận thành ra miếng ruộng nào cũng nhỏ xíu bằng hai bàn tay. Chú có biết tại sao trước mình nhìn thấy xa mút tầm mắt, giờ nhìn thấy gần khít bên đít hông? Cũng tại hồi trước người ta chỉ chú tâm làm rặt lúa mùa, mỗi năm một mùa thôi. Ruộng ai thì nấy đắp bờ. Nhưng hồi xưa đất rộng quá, ai hơi sức đâu mà chia bờ xẻ rãnh làm gì. Chỉ nhắm hướng là biết đất nào của chủ nào. Còn bây giờ, ai ai cũng đua chen làm hai ba vụ. Đất chưa kịp hoàn thổ thì lại lôi đầu trâu bò ra mà cày bừa bát loạn lo mùa sau. Làm nhiều thất bát nhiều, làm nhiều hụt lúa hụt gạo nhiều, làm nhiều ruộng đồng nhỏ nhiều là vậy. Đó là chưa kể vừa làm ruộng lại vừa muốn lập vườn, nên rặng cây này chồm qua rặng cây kia chen chúc nhau hứng từng chút, từng chút ánh nắng mặt trời, làm sao mình còn thấy cánh đồng nào lớn nữa đâu chú Tám. 

Giáo sư Nguyễn Hưng Quốc

Từ đó tui mới nghĩ qua “cái lớn cái nhỏ” trong sách vở đâu có khác gì nhau cho lắm. Các bậc văn gia vừa làm văn, bắt qua làm thơ rồi viết biên khảo phê bình, kịch nghệ hí trường đủ các món ăn chơi. Cái nào cũng lãu thông nhưng không có cái nào lớn là vậy. Người tài, cho dù là thiên tài, thì cái trời cho cũng có hạn chú Tám à. Chứ đâu phải ỷ có của trời rồi xài phung phí quá thì cũng đâu còn gì, nên không viết được cuốn sách lớn là vậy. Nghĩ khác Trang Tử một chút chắc cũng thú vị lắm phải hông chú Tám? Chứ “chim cưu, chim bằng” hoài mà mình có biết mấy con chim đó hồi nào đâu nên mình làm sao hiểu nổi sách vở thánh hiền.” 

Xem thêm:   Suy Đi Ngẫm Lại (02/26/2026)

Thưa thầy Quốc, 

Tui nói vậy rồi, chú Tám Thanh vỗ đùi một cái chách, hớp hết ly rượu nếp ngọt xớt mà quên cái bao tử sau 4 lần cắt đi cắt lại còn có chút xíu. Rồi thầy biết sao hông? Tui mới nói tiếp, hồi đời trước ông cha mình đâu có viết sách nhiều như bây giờ, mà nhiều tác phẩm để lại cho con cháu mấy trăm đời sau đâu có nhỏ. Tui mới đưa ra nhiều thí dụ để chú Tám Thanh thấy cái lớn của các bậc tiền hiền. Chẳng hạn chỉ 4 chữ vỏn vẹn “nhớ nước đau lòng” của bà Huyện Thanh Quan, nghĩ cho cùng mới thấy cái tâm hồn lớn của nữ sĩ. Mỗi lần đọc lại câu thơ của Bà, lòng tui sao thấy nao nao một nỗi niềm khó tả. Rồi tấm lòng “vui cái vui của người nông dân và buồn cái buồn của người nông dân” của Nguyễn Khuyến, mấy ai có được, đâu phải là một chuyện nhỏ. Chính vì vậy mà tên tuổi ông đã bất tử trong lòng những người làm ruộng cơ hàn như dân quê xứ tui.  

Kể tới đây, tui mới nhắc lại một chút về cuộc đời của Tô Đông Pha, những ngày làm quan của ông đâu phải là những ngày vui sướng, vinh hiển lớn lao gì. Nhiều khi họ Tô còn tự cúi đầu mà xót xa tủi nhục vì phải  giữ chức quan dưới triều Vương An Thạch, một người mà ông đã đả kích vì những luật lệ hà khắc của họ Vương đặt ra, trái với ý muốn về hưu của mình. Cho tới lúc Tô Đông Pha bị đày về đất Hoàng Châu được hai năm, càng ngày càng túng quẫn, nên ông bắt đầu làm ruộng, đất do người bạn cũ là Mã Mộng Đắc xin chính quyền địa phương cấp cho ông khoảng mươi mẫu ở Đông Pha, một cái dốc ở phía Đông thị trấn Hoàng Châu. Nhờ cảnh đời quá cơ hàn, Tô Đông Pha mới làm được 8 bài thơ về cảnh làm ruộng của mình có tựa là “Đông Pha Bát Thủ”, trong bài thơ thứ (*), có câu này tui thích nhất là “Lương nông tích địa lực”(nghĩa là “Nhà nông giỏi thì biết tiếc sức của đất”). 

Xem thêm:   Paris nơi ký ức của tình yêu ở lại

Chú Tám Thanh nghe tui kể chịu quá. Hai anh em tui mới nâng ly vô một hớp rượu nếp nữa và tui hứng quá nói với chú Tám rằng: “Bắt chước Tô Đông Pha, tui nghĩ nhà văn lớn cũng nên tiếc chữ mình dùng. Mà hễ tiếc chữ mình dùng thì sẽ viết ít lại. Và khi viết ít lại chẳng khác nào trong ruột cây lâu năm có trầm, trong vỏ ốc lâu năm có ngọc vậy!” Sở dĩ ngày nay “văn chương hạ giới rẻ như bèo”, nói như Tản Đà, có lẽ cũng tại vì có nhiều người làm thơ dễ hơn ăn cơm. Không biết nói vậy là có nói trật hông? Xin chư liệt vị văn nhân thi sĩ niệm tình mà châm chước bỏ qua cho kẻ già nơi thôn dã này để được nhờ mà quý vị cũng hưởng được nhiều phúc đức. Rất mong thay! 

Thưa thầy Quốc, 

Bàn chữ nghĩa với thầy, thiệt tình tui cũng ớn quá. Nhưng tui còn nhớ cách nay lâu lắm không biết đọc được ở đâu, có lần thầy trách người đọc, tui xin lặp lại không chắc đúng nguyên văn vì bây giờ tui già quá rồi lại quên trước quên sau, nếu có trật trúng gì xin thầy châm chước bỏ qua cho, đại khái là: “Bây giờ viết không có người đọc, mà nếu có người đọc cũng không nghe ai có ý kiến ý cò gì, cho dù có ý kiến chê mình, mình thấy cũng vui.” Thành ra, nhớ câu viết đại khái đó của thầy, mà tui mới xăm mình, uống mật gấu viết cho thầy dông dài qua lá thư trước bàn về “coi hát cọp”, “ăn cơm chùa” và lá thư này bàn về chuyện “lớn nhỏ”. 

Đêm hôm khuya khoắt rồi. Giữa cảnh nhà quê bốn bề cô tịch này tiếng chuột lắt lục nồi nghe sao buồn não nuột quá trời. Nhân nhắc đến hai chữ “quá trời”, mà nhớ hồi trước lúc tía tui còn sống, mỗi lần anh chị em tui đứa nào mà nói cái gì có xài tới hai chữ “quá trời” là bị tía tui la rồi. Tía tui nói: “Trời là cao, là lớn rồi, không có gì cao lớn hơn trời.” Tụi tui nghe tía rầy như vậy mà êm re, mỗi khi muốn nói cái gì quá sức là phải lựa chữ nào gần giống “quá trời” mà xài. Nhưng như thầy biết, con nít nhà quê như lớp tụi tui, chuyện lựa chữ đâu có dễ như ăn cháo, ăn cơm. Thành ra, nhiều khi cũng ớn như ăn cơm nếp, chứ chẳng chơi. 

Xem thêm:   Nghĩa địa tàu biển!

Thư này viết cho thầy cũng đã khá dài rồi, mà chuyện muốn hỏi để học thầy thêm thì còn nhiều quá mạng như trong sách vở, đặc biệt là trong tự điển, có trúng có trật hông, bàn dân thiên hạ có thiệt sự là “kẻ thù của văn chương” hông và còn nhiều chuyện khác nữa mà tui chưa rõ nghĩa lý của nó. Tui đành phải hẹn lại. Chúc thầy ngủ ngon. Tui cũng vô mùng dỗ giấc để sáng mai còn lo vót tiếp mấy bó nan đan cho rồi ba cái rổ, cái xề xài lặt vặt trong nhà, nếu có dư, sắp nhỏ đem ra chợ bán kiếm năm ba đồng, tiện tặn mua cũng được vài gói trà con công uống đỡ khổ ở tuổi già này. Mong lắm thay! 

  

Nay thư, 

Hai Trầu 

Kẻ trí người quê

Kinh xáng Bốn Tổng ngày… tháng 12 năm 2003 

  

Kính gởi các Thầy, 

Hôm nay ngày Chúa Ra Đời, tiếng chuông nhà thờ Năng Gù mừng lễ dù xa thật xa, tuốt trên xã Bình Mỹ, đường đi Châu Đốc, khỏi chợ Mặc Cần Dưng một đỗi, vậy mà qua cánh đồng lúa đang thời mạ non, tui vẫn nghe một niềm vui đang theo gió tràn dìa dưới kinh xáng Bốn Tổng này mà mừng. Và không kềm giữ được, bèn lấy giấy viết ra, rồi rị mọ viết lá thư này gởi qua thăm các thầy cho thoả niềm riêng tư chôn chặt bao ngày. 

Nhớ hôm các thầy dìa ghé lại kinh xáng thăm tui, tui mừng quá mạng. Người từ Huế, người từ Quảng Nam, người Phan Thiết cho chí đến Biên Hoà vùng bưởi ngọt Thanh Trà, người miệt Long Xuyên, Vàm Cống, Lấp Vò tui mới thấy hết cái tình người không phân biệt kẻ trí người quê mà chia sẻ chút lòng với nhau. Quả thật quý là quý biết chừng nào! 

Thưa các Thầy, 

Xưa nay, kẻ trí người quê ít có dịp gần nhau nói gì ngồi chung chiếc đệm bàng rách trải ngoài bờ kinh xáng mà nhậu. Hôm ấy, các thầy đến mà không hẹn, nên chòi trại cũng vì lòng hiếu khách mà mở rộng đón mừng các thầy trong cảnh eo xèo, lượm thượm. Chỉ dĩa rắn xào lá lốt, vài con mắm cá linh, vài con cá lóc xỏ lụi nướng trui, vài lát gừng, năm ba bụi rau càng cua, rau ngổ, rau răm, vậy mà huyên thuyên trăm chuyện. Chợt đâu trong bụng cứ muốn rút ruột nói hoài cho phỉ tình người quê kẻ chợ ngàn năm một thuở ngồi đối ẩm tương phùng.  

Tui thì nhớ các thầy quá mạng, nhưng không biết “người xa, xa có nhớ ta không?”. Nhớ hôm ấy “một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh”, giống Thanh Tịnh, mà nhớ hồi còn ấu thơ tui đi học trường tiểu học bổ túc Bình Hòa, mà sao lòng kẻ ruộng rẫy này ấm áp vô cùng. Những năm tháng ấy giờ xa quá xa mà không sao lòng đành phụ bạc các bậc Thầy giáo làng đã dạy tui biết chút ít chữ quốc ngữ vỡ lòng. 

(còn tiếp)