Sau Tết Mậu Thân, tình hình chiến sự căng thẳng, lệnh giới nghiêm được ban hành khắp nơi, ở thủ đô Sài-Gòn cũng không ngoại lệ. Vì lý do an ninh, khán giả đến rạp thưa dần. Nhiều gánh hát lớn nhỏ phải hạ màn, chỉ còn lại một số hoạt động cầm chừng như Dạ Lý Hương, Kim Chung v.v. Mãi đến đầu thập niên 70 sân khấu cải lương ở Sài-Gòn mới thoi thóp hồi sinh. Nhưng chính biến cố 30/4 mới thật sự khởi đầu khai tử nền cải lương.
Ông Tôn Ngọc Chắc và bà Tiêu Thị Mai, gốc người Bạc-Liêu, là chủ nhân rạp Quốc Thanh, số 271 trên đường Võ Tánh, quận Nhứt. Ðây là một rạp hát cải lương lý tưởng và duy nhất ở Sài-Gòn được xây cất tân kỳ, hội đủ yếu tố và cũng là điểm hẹn cho những đêm hát cải lương sang và đẹp. Sẵn có rạp nhà và cũng hy vọng vực dậy nền ca kịch nước nhà đang bị mai một nhất là sau cái Tết Mậu Thân nên ông bà đã gầy dựng lên hai gánh hát Thái Dương 1 và 2 vào đầu thập niên 70 với 2 đôi nghệ sĩ chánh là Dũng Thanh Lâm, Mỹ Châu và Thành Ðược, Phượng Liên. Ðoàn đã trình diễn các vở tuồng “Thảm kịch đêm thứ bảy“, “Ðời cô Lẻ”, “Bông ô-môi“, “Sau bức màn nhung”, “Ông huyện đề”.
Soạn giả Hoa Phượng và Viễn Châu được xem là những soạn giả chủ lực của đoàn. Không những được sự ủng hộ nhiệt tình của khán giả thủ đô mà trên bước đường lưu diễn, đoàn cũng được khán giả khắp bốn vùng chiến thuật mến mộ. Chẳng may, bà Mai bị thảm sát và hai gánh hát Thái Dương bị tan rã một năm sau ngày thành lập!
Ðoàn ca kịch Bạch Tuyết – Hùng Cường do anh Sáu Thanh và một số mạnh thường quân vì yêu cải lương nên đã góp vốn thành lập. Ðoàn khai trương tại rạp Quốc Thanh vào đầu tháng 12/1972 với vở tuồng Trăng thề vườn thúy do soạn giả Quy Sắc phóng tác từ tác phẩm Kim Vân Kiều của Nguyễn Du. Ðạo diễn Hoàng Việt góp tay dàn dựng cùng với nhạc sĩ Ðức Phú đảm trách phần âm nhạc. Ðây là một gánh hát tầm cỡ đại ban vì đã quy tụ được một lực lượng nghệ sĩ hùng hậu, tiếng tăm thời bấy giờ như Bạch Tuyết, Hùng Cường, Phượng Liên, Hoàng Long, Ngọc Giàu, Thanh Sang, Kim Ngọc, Phương Thanh, Ðỗ Quyên, Hoàng Giang, Kim Giác, Văn Ngà, Tư Rọm v.v.
Tờ quảng cáo khai trương của đoàn được in ấn với kỹ thuật “offset” bảy màu (kỹ thuật hiện đại thời bấy giờ) và được gấp lại làm tư như một cuốn “brochure”. Có lẽ đây là cuốn “brochure” trang trọng nhất nhì so với cuốn “brochure” gồm mười sáu trang của đoàn Thống Nhứt nhân dịp khai trương hồi năm 1963. Những vở tuồng tiếp theo như ‘Cho trọn cuộc tình’, ‘Má hồng phận bạc’, ‘Hoa chùm gởi’, ‘Gái biển’ v.v. được khán giả rất yêu chuộng và góp phần tạo thêm tiếng tăm cũng như uy tín của đoàn.

Rạp Kim Chung
Không lâu sau đó, Hùng Cường đột ngột rời đoàn. Thành Ðược được mời về thay thế diễn lại những vở hát cũ và khai trương hai vở mới ‘Nỗi buồn của quỷ’ và ‘Thủ cung sa’. Không rõ vì lý do gì mà đoàn hạ bảng hiệu sau một thời gian hoạt động ngắn ngủi, vỏn vẹn chỉ trên dưới mười một tháng!
Sau khi dàn nghệ sĩ gạo cội ra đi, ông bầu Xuân Diệp Nam Thắng của đoàn Dạ Lý Hương đã củng cố lại “đội hình” bằng cách mời những tài danh về đầu quân dưới bảng hiệu của mình. Thành phần nghệ sĩ của đoàn gồm có Thanh Nga, Dũng Thanh Lâm, Phương Quang, Ngọc Hương, Thanh Tú, Trang Bích Liễu, Kiều Mai Lý, Phước Trọng, Ba Vân v.v. với một loạt tuồng tích mới toanh như ‘Hồn ma trinh nữ’ (sau đó vở tuồng được chuyển thành phim ảnh và đưa lên màn bạc với cái tên ‘Con ma nhà họ Hứa’), ‘Mộng bá vương’, ‘Người về đêm hưu chiến’, ‘Chuyện Ðại Phát Tài’, ‘Ngựa hoang về núi’.
Tuồng ‘Ngựa hoang về núi’ của soạn giả Nguyên Thảo là một vở hát hay nhưng khán giả đến rạp không nhiều, một phần cũng vì chiến cuộc tràn lan và dân chúng làm ăn, buôn bán khó khăn. Trong một bài báo viết về kịch trường, một ký giả có tiếng đã đưa tin “đoàn Dạ Lý Hương có sức mạnh đến bốn mã lực mà vẫn không kéo được khán giả đến rạp vì ảnh hưởng chiến sự”. Các anh chị Dũng Thanh Lâm, Thanh Nga, Ngọc Hương và Phương Quang đều mang cùng tuổi Ngọ.
Giữa năm 1973, Kim Tuyến được mời về đoàn để tạm thay thế Thanh Nga sanh em bé. Kim Tuyến đã hát qua các vở tuồng như ‘Huyền thoại Bạch Trân Nương’ của hai soạn giả Nhị Kiều và Thế Châu, ‘Tâm sự người cha’, ‘Con khác mẹ’ của soạn giả “ông cò” Nguyễn Huỳnh. Tôi còn nhớ tờ “flyer” khai trương vở tuồng Huyền thoại Bạch Trân Nương in ấn lộng lẫy, đẹp mắt gồm hai màu mực, khổ giấy to gần bằng trang nhật báo Chính Luận, một mặt đăng hình ảnh các nghệ sĩ tham gia vở tuồng thật đẹp và rõ nét, còn mặt kia dành trọn vẹn phần quảng cáo cho thương hiệu bột giặt Tico của ông bầu Xuân kiêm thương gia Diệp Nam Thắng.

Rạp Thanh Minh Thanh Nga
Tết Nguyên Ðán Giáp Dần 1974, đoàn Dạ Lý Hương tưng bừng khai trương tại rạp Quốc Thanh hai vở tuồng cải lương nổi tiếng ‘Khi người điên biết yêu’ và ‘Người thua cuộc’ với bốn nghệ sĩ gạo cội Thanh Nga, Hùng Cường, Dũng Thanh Lâm và Phương Quang. Sau đợt lưu diễn miền Trung, miền Tây đoàn ngưng hoạt động cho đến ngày 30 tháng tư 1975.
Mùa hè năm 1974, sinh hoạt cải lương sa sút rõ rệt, các xuất hát lần lượt thưa thớt nơi các rạp đô thành. Các nghệ sĩ hữu danh như Hùng Cường, Thành Ðược, Mộng Tuyền, Thanh Nga, Hữu Phước, Út Bạch Lan, Hùng Minh, Thanh Nguyệt, v.v. vì không có đoàn để hát nên đã tự góp vốn để lập thành một nhóm cải lương mang tên “Tiếng Hát Dân Tộc” và tiền lời được chia theo cổ phần và doanh thu của từng xuất diễn. Phần chăm sóc nghệ thuật được giao cho nghệ sĩ lão thành Tám Vân và soạn giả Nhị Kiều lo về tuồng tích. Nhờ vậy mà sinh hoạt cải lương ở rạp Quốc Thanh được xôm tụ và nhộn nhịp hẳn lên. Tiếp theo vở hát khai trương, ‘Mẹ’ tức ‘Kỳ quan vũ trụ’ với các nghệ sĩ Thành Ðược, Mộng Tuyền, Út Bạch Lan, Thanh Nguyệt, v.v. là những vở tuồng rất hay như ‘Tỉnh giấc liêu trai’ (Thành Ðược, Út Bạch Lan), ‘Chuyện tình An Lộc Sơn’ (Hùng Cường, Thanh Nga, Hữu Phước) v.v. Sau chương trình Giỗ Tổ nghệ sĩ năm 1974 với vở tuồng ‘Tiếng hạc trong trăng’ do Hội ái hữu nghệ sĩ tổ chức cùng với hai vở diễn ‘Mạnh Lệ Quân’ và ‘Bóng người yêu cũ’ là sự tái hợp lần nữa của đôi nghệ sĩ Thanh Nga và Thành Ðược. Lần tái ngộ hy hữu đó cũng là dịp gặp gỡ sau cùng trên sân khấu của đôi nghệ sĩ tài danh này.
Ðoàn «Tiếng Hát Dân Tộc» hát Tết Nguyên Ðán Ất Mão 1975 tại rạp Quốc Thanh với vở hát mới ‘Hàn Sơn tự một đêm xuân’ do soạn giả Nhị Kiều phóng tác cải lương theo tích truyện ‘Anh hùng Lương Sơn Bạc’ với vai chính do hai nghệ sĩ Hoàng Long và Ngọc Giàu đảm trách. Chuyến lưu diễn miền Trung dài hạn của đoàn chấm dứt khi vùng cao nguyên thất thủ vào giữa tháng 3 năm 1975.
Bên công ty Kim Chung của ông bầu Trần Viết Long, các nghệ sĩ vẫn lên màn trình diễn đều đặn ở rạp Olympic trên đường Hồng Thập Tự. Ngày trước gồm 6 đoàn, nay chỉ còn lại Kim Chung 2 và 5 với đôi nghệ sĩ ăn khách Mỹ Châu, Phương Bình và Lệ Thủy, Minh Phụng luân phiên trình diễn những vở tuồng kiếm hiệp, hương xa thu hút nhiều tầng lớp khán giả tại thủ đô cũng như trên đường lưu diễn đó đây.

Thanh Nga
Năm 1973, nghệ sĩ Phương Bình rời Kim Chung để lập gánh hát riêng. Gánh Hương Dạ Thảo Phương Bình được khai trương với thành phần nghệ sĩ như “hồ quảng chi bảo” Bạch Lê, Út Trà Ôn, Ngọc Bích, Tô Kim Hồng và ông bầu Phương Bình.
Ðôi nghệ sĩ Quốc Trầm và Phương Dung cũng «ra riêng» để lập gánh Du Sỹ Ca và thường xuyên lưu diễn miền Tây, miền Trung hơn là trụ ở Sài-Gòn.
Anh em nhà nghệ sĩ Thanh Ðiền cũng rời công ty Kim Chung sau một thời gian dài cộng tác để lập gánh hát Xuân Liên Hoa với sự góp mặt của anh Dũng Thanh Lâm, Phương Thanh, Minh Tâm, Thanh Kim Huệ và Hà Mỹ Xuân.
Ðoàn ca kịch Việt-Nam của bà bầu Thu cũng là một đại ban được hình thành năm 1974 với thành phần nghệ sĩ Minh Vương, Phượng Liên, Xuân Lan, Trang Thanh Xuân, v.v. Vương hậu Thanh Nga được mời về thay thế chị Phượng Liên khi chị vừa hết hợp đồng.
Gánh hát Hoa Lan của “ông cò” Nguyễn Huỳnh Phước và bà bầu Hoài Dung là gánh hát gia đình và thuộc hàng “trung ban” chỉ lưu diễn nơi miền tỉnh lẻ xa xôi nhưng cũng không tồn tại được bao lâu giữa khung cảnh bom rơi, đạn lạc.

Một tờ “flyer”
Gánh cải lương hồ quảng Sơn Minh với đôi nghệ sĩ Thanh Sang và Bạch Lê hát khai trương ở Sài-Gòn hồi năm 1974 và thường giong ruổi nơi các tỉnh thành, hải đảo. Gánh hồ quảng Thanh Tòng thường xuyên trụ tại rạp Long Phụng trên đường Gia Long, gần ngã sáu Sài-Gòn cũng chỉ mở màn vào những xuất hát ban chiều vì lệnh giới nghiêm.
Thời gian này hãng dĩa Việt-Nam của cô Sáu Liên hoạt động mạnh mẽ với những giọng ca trẻ trung, nhiều triển vọng, đa số đến từ hai đoàn Kim Chung. Song song với việc phát hành những vở tuồng cải lương thu thanh nổi tiếng, cô Sáu Liên đã phát hành 21 chương trình Tân Cổ Giao Duyên được công chúng yêu thích cho đến bây giờ.
Hãng dĩa Continental của nhạc sĩ Nguyễn văn Ðông và hãng băng Hồn Nước (ra đời năm 1974) của nhạc sĩ Ngọc Chánh cũng không hề “thua chị kém em”. Vở tuồng ‘Chuyện tình An Lộc Sơn’ của soạn giả Trỵnh Lang do đoàn Tiếng Hát Dân Tộc trình diễn trước đó không lâu đã được hãng Hồn Nước thu thanh vào băng nhựa và được giới thưởng ngoạn lưu truyền cho đến bây giờ. Nhờ vậy mà anh chị em nghệ sĩ có cơ hội được sống với nghề hay ít ra cũng có thêm chi phí để trang trải cho cuộc sống thường nhật khi cuộc chiến ngày một lan rộng và sinh hoạt sân khấu bị bế tắc.
Tháng 3.1975 tình hình chiến sự ngoài miền Trung sôi động, các gánh hát lớn nhỏ hết sức may mắn tránh được đạn bom và kịp thời về đến Sài-Gòn bình an, trong đó có gánh Việt-Nam và Tiếng Hát Dân Tộc. Tháng Tư 1975, miền Nam bị đứt phim, nền văn nghệ tự do bị bức tử sau cái mùa xuân u ám đó.
TV








