Khoảng thời điểm này, vào hai năm trước – chính xác là hôm 30 tháng 4 năm 2021 – báo Sài Gòn Nhỏ có thiên phóng sự (“Đi Tìm Nhân Vật Trong Bức Ảnh Lịch Sử”) của Tuấn Khanh, với phần dẫn nhập như sau:

“Những ai đã từng nhìn qua những hình ảnh về cuộc chiến tranh Việt Nam, chắc cũng có lúc đã bắt gặp hình ảnh một người lính Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) đang bị thương tật, bị đuổi ra nơi chữa trị của mình là Tổng Y Viện Việt Nam Cộng Hòa vào chiều ngày 30-4. Tấm hình nhỏ không có nhiều sự thuyết minh nhưng chỉ với ánh mắt của người thanh niên đau đớn, mệt mỏi đang chống nạng bước đi, đã là sự ám ảnh không lời đến tận cùng.

Trong bộ quân phục có vẻ mặc vào vội vã, anh lính VNCH đó bước đi và lọt vào khung hình, trở thành một dữ liệu giằng xé im lặng, như một vết thương không bao giờ lành về một câu chuyện có thật: Những người thương bệnh binh bị chĩa súng, đuổi ra đường, ngay sau khi quân bộ đội Bắc Việt tràn vào Sài Gòn. Nhiều năm trôi qua, người ta vẫn tự hỏi, người lính ấy còn sống không, giờ này người đàn ông ấy ra sao…?”

Gần hai năm sau, cũng trên Sài Gòn Nhỏ (số phát hành hôm 6 tháng 3 năm 2023) nhà báo Y Nguyên cho biết:

“Cựu quân nhân VNCH Võ Phùng Dương đã qua đời do tuổi già sức yếu, một phần những di chứng chiến tranh đi kèm lao động nặng nhọc suốt một thời gian dài. Ông Võ Phùng Dương là nhân vật trong bức ảnh lịch sử về người thương binh VNCH đang chữa trị ở Tổng Y Viện Sài Gòn, đã phải chống nạng và dìu đồng đội thương tật nặng hơn mình bước ra sau khi quân Bắc Việt tràn vào, đuổi hết mọi người ra ngoài, kể cả những người đang mổ giữa chừng.”

Chĩa súng đuổi thương bệnh binh của phe bại trận ra khỏi quân y viện – kể cả “những người đang mổ giữa chừng” – chỉ là phản ứng cá nhân của vài anh bộ đội (đang say men chiến thắng) hay là đường lối, chủ trương, chính sách của bên thắng cuộc?

Câu trả lời có thể tìm được qua những con số tương đối khả tín, và khả xác này:

  • Jacqueline Desbarats and Karl Jackson (“Vietnam 1975-1982: The Cruel Peace”, in The Washington Quarterly, Fall 1985) estimated that there had been around 65,000 executions. This number is repeated in the Sept. 1985 of State Bulletin article on Vietnam.
  • Northwest Asian Weekly (5 July 1996): 150,000 -175,000 camp prisoners unaccounted for.
  • Orange County Register (29 April 2001): 1 million sent to camps and 165,000 died.
Xem thêm:   Putin nói gì về tranh chấp pháp lý tại Biển Đông?

Năm 1975, một triệu người vào tù – một trăm sáu mươi ngàn không bao giờ trở lại –  và lắm kẻ bị giam mãi đến 1993 (18 năm trường, dù chương trình “cải tạo” được hứa hẹn chỉ kéo dài độ mười ngày) thì biết bao nhiêu gia đình tan nát giữa lúc “Nam/Bắc hoà lời ca” ?

Mà không chỉ đám ngụy quân, ngụy quyền (hay đám ngụy dân) mới bị gạt ra ngoài  bản hòa ca Bắc/Nam đâu. Tuy chiến tranh đã chấm dứt nhưng hòa bình, xem ra, cũng không được an bình gì cho lắm. Đời sống của phần lớn mọi người bỗng trở nên khó khăn, khó thở, và xáo trộn “như một bầy ong vỡ tổ” – theo lời của FB Mai Thị Mùi:

“Đất nước thống nhất nhưng cuộc sống người dân như bầy ong vỡ tổ. Người ta lăn xả ra đường tìm kế sinh nhai, bán, buôn, đổi chác tất cả những gì có thể. Hàng hoá thiếu thốn, ngăn sông cấm chợ, quy định, luật lệ lộn tùng phèo tạo nên một xã hội xô bồ mạnh ai nấy buôn, mạnh ai nấy bán. Không khí đất nước những năm tháng ấy như căn phòng đóng kín cả cửa đi lẫn cửa sổ. Nó ngột ngạt, tù túng như vây hãm con người ta trong ngục tù.”

Thế là dân Việt ào ạt cùng nhau “vượt ngục” và đã tạo nên những làn sóng vượt biên, kéo dài đến mấy thập niên, khiến cho kho tàng ngôn ngữ nhân loại có thêm một từ ngữ mới: boat people – thuyền nhân! Họ thuộc “thành phần bất hảo, ma cô, đĩ điếm, trộm cướp, cặn bã của xã hội, trây lười lao động, ngại khó ngại khổ, chạy theo bơ thừa sữa cặn… ” – như nguyên văn lời giải thích của giới lãnh đạo VN trước dư luận thế giới, và với lũ cột đèn (còn) kẹt lại.

Không hiểu những thuyền nhân Việt Nam đã hành nghề ma cô, đĩ điếm, và tổ chức trộm cướp ra sao nơi đất lạ quê người chỉ thấy số lượng bơ thừa sữa cặn mà họ gửi về cố hương đã cứu toàn dân (cũng như toàn Đảng) thoát chết đói nhiều phen. Từ đó, nhà đương cuộc Hà Nội bèn đổi mới tư duy và cũng bắt đầu… đổi giọng.

Xem thêm:   Trương Văn Dũng

Những kẻ  phản bội tổ quốc không những đều được “khoan hồng” mà còn được  vinh danh như “những sứ giả Lạc Hồng,” và (bỗng) trở thành “một bộ phận không thể tách rời của cộng đồng dân tộc,”  hay “là cầu nối phát triển quan hệ hợp tác hữu nghị giữa nhân dân ta với nhân dân các nước trên thế giới.

Nghị Quyết 36 về “Công Tác Đối Với Người Việt Nam Ở Nuớc Ngoài” ra đời (vào ngày 26 tháng 03 năm 2004) để thực hiện đường lối và chủ trương mới của Đảng và Nhà Nước về những khúc ruột xa ngàn dặm này. Tuy là một văn bản khá dài (3.791 từ) nhưng không có một chữ nào – nửa chữ cũng không – đề cập đến nguyên do sự có mặt của vài triệu nguời Việt đang tứ tán khắp năm Châu cả. Cứ như thể là khi khổng khi không họ (bỗng) từ trên trời rơi xuống vậy.

Tuy thiếu đầu hở đuôi thấy rõ nhưng N.Q 36 vẫn nhận được mấy tiếng vỗ tay (lác đác) của vài ba nhân vật tên tuổi:

  • Phạm Duy : “Đó là một cách đưa tay ra với những người thua trận.”
  • Nguyễn Cao Kỳ: “Tôi sẽ nói rằng tôi đã tận mắt chứng kiến những thay đổi lớn lao của đất nước. Nói để cho họ hiểu rằng đừng có ngoái cổ mà nhìn lại quá khứ nữa. Cũng đừng có cay cú, cay đắng, chua chát mà làm gì, hãy xóa đi dị biệt hướng tới tương đồng để mà cùng nhau xây dựng đất nước.”
  • Nguyễn Đăng Hưng: “Nếu nghị quyết được thực hiện tốt, nó sẽ có sức công phá rất lớn và nó sẽ tạo ra sự ràng buộc, gắn kết chặt chẽ giữa những người cùng một nước, bất chấp khoảng cách về thời gian, không gian. Tôi đang chờ ở khâu thực hiện vì hiện nay theo tôi biết, từ khi nghị quyết này được ban hành, có nhiều con tim đã vui trở lại.”

Nay thì tướng Nguyễn Cao Kỳ và nhạc sỹ Phạm Duy đã mồ yên mả đẹp (hy vọng thế) T.S Nguyễn Đăng Hưng tuy còn tại thế nhưng “con tim” đã không “vui trở lại,” như mong đợi. Trong một cuộc phỏng vấn dành cho thông tín viên Diễm Thi (RFA) vào hôm 30 tháng 10 năm 2021, ông tâm sự :

Xem thêm:   Thịt bẩn nhập cảng

“Tôi buồn lắm và tôi quyết định là không nói gì nữa. Mà nói thiệt, báo chí Việt Nam giờ không dám hỏi tôi đâu. Hình như có một cái lệnh đâu đó bằng miệng là đừng để ông Hưng xuất hiện trên đài nữa. Tôi là người tha hương trên đất nước tôi!”

Sao lại ra nông nỗi thế, hả Trời?

Một vị trí thức khoa bảng sau hơn 40 năm học tập và nghiên cứu khoa học ở ngoại quốc, tình nguyện trở về giúp quê hương (và “đã vận động hàng triệu USD tài trợ cho công tác đào tạo nhân tài nước Việt”) mà còn bị bịt mồm bịt miệng thì vấn đề hòa giải với chế độ hiện hành rõ ràng là vô cùng nan giải (nói chi đến chuyện hòa hợp) với bất cứ ai!

Một vị T.S khác, ông Nghè Mạc Văn Trang, người suốt đời sinh sống và làm việc trong nước (một kẻ ở trong chăn) nên đã “đề xuất” một “phương án” thực tiễn và dễ dàng thực hiện hơn nhiều: “Bớt ác với dân đi.”

Đúng thế: hãy bớt ác với dân trong nước cái đã!

Đừng tiếp tục cướp bóc đất đai của thiên hạ nữa. Tiếng kêu của “dân oan” VN đã vang lên đến thấu Trời rồi.

Ngưng khai thác sức lao động của những người già cả neo đơn, những kẻ khuyết tật không nơi nương tựa, và những đứa bé côi cút đang phải sống dở (chết dở) với những xấp vé số trên tay … đi. Những kẻ thua thiệt này cần được bảo bọc, trợ giúp thay vì bóc lột.

Hãy thôi kỳ thị những nhóm dân bản địa. Họ mới chính là chủ nhân của đất nước này. Chính họ đã tạo ra một vòng đai an ninh cho miền Bắc và miền Tây nước Việt. Với cuộc sống đơn giản và hài hoà với thiên nhiên, họ chính họ đã giữ cho môi trường sinh thái được quân bằng, tạo một “vòng đai xanh” cho tổ quốc. Ngược đãi người dân bản địa là việc làm không chỉ bạc ác mà còn ngu xuẩn nữa.

Cũng thôi đừng đập phá bia mộ của những kẻ thuộc bên thua cuộc nữa. Trút hận thù lên ngay cả những nấm mồ của kẻ đã nằm xuống thì làm sao với tay đến được thân nhân của họ, những khúc ruột xa, ở tận nước ngoài?

TNT