Ðất Mỹ Tho hồi xưa là đất Miên. Thế kỷ 17, Chúa Nguyễn cho người Minh Hương, phản Thanh phục Minh vượt biên từ bên Tàu qua định cư và lập nên Mỹ Tho đại phố.

Mỹ Tho tiếng Miên là “Mi Sâr’ nghĩa là xứ có giai nhân da trắng. Sau nầy, chung đụng với người Quảng (Ðông) người Tiều (Châu), nên con gái Mỹ Tho sanh ra, không cần trắng da vì bởi phấn dồi, em đẹp một cách não nùng!

Mùa gió chướng, từ Cửa Ðại, nước mặn tràn vô đâu có lên tới Vàm Kinh Bảo Ðịnh. Tắm nước ngọt quanh năm, suốt tháng con gái Mỹ Tho trắng như bông bưởi là phải rồi!

Rồi năm 1862, Tây mũi lõ chiếm Mỹ Tho. Nó đắp lộ, xẻ đường vuông vức như bàn cờ. Tây cất cái cầu Quay. “Chừng nào cầu quay nọ thôi quay. Thì qua với bậu mới đứt dây cang thường.” “Chừng nào xe lửa Mỹ bung vành. Tàu Tây kia liệt máy anh mới đành xa em”. Tháng Tư, 1975, CSBV tràn vô. VC trong bưng biền tràn ra. Anh bỏ em chạy sút dép qua tới Melbourne nầy. Chiều cuối năm, từ quê nhà, em yêu ngày cũ đã xa, một á xẩm Quảng Ðông, gọi qua trách móc: “Nghe anh hò; con gái Mỹ Tho lầm chết!”

Con đường Trưng Trắc từ Vườn Hoa Lạc Hồng chạy cho tới Cầu Quay. Dọc bờ kinh, dãy nhà sàn gie ra mặt nước biết bao nhiêu tiệm ăn và quán nhậu. Chốn phồn hoa đô hội, VC vô, nó đập tanh bành hết ráo.

Cầu quay Mỹ Tho

Sở dĩ rành 6 câu vọng cổ là vì những năm 1960, Má tui bán cơm tấm bên hông rạp Ðịnh Tường, đường Trưng Trắc Mỹ Tho. Ngoài Má tui ra, còn có Chú Phu người Quảng, xe bán hủ tiếu. Chú Tiều xe bán bò vò viên.

Xem thêm:   Tết ăn, chơi!

Chú Tiều có thằng đệ tử, nhỏ hơn tui ba tuổi, tên Mẹt. Những ngày bão rớt, hai đứa ngồi chong ngóc dưới hàng hiên nhìn mưa mà tán dóc. “Lớn lên nị làm gì?” Nó nói: “Thì bán bò vò viên. Cưới vợ đẻ con rồi cũng bán bò vò viên.”

Thằng Mẹt kể rằng: “Trời chưa sáng bửng, chú Tiều dắt nó ra tiệm nước trước rạp hát Vĩnh Lợi ăn hủ tiếu, bánh bao, xíu mại và uống cà phê. Xong sư phụ xỉa răng, hút thuốc Bastos đỏ trên đường về.”

“Mười ký thịt bò mối giao tận nhà hồi sáng sớm. Ngày mưu sinh của hai thầy trò bắt đầu. Thịt bò mới, không cần rửa. Cắt miếng nhỏ chừng hai ngón tay. Hốt từng nắm bỏ lên tấm thớt dầy khổng lồ để dưới đất. Ngồi trên chiếc ghế thấp, dùng hai thanh thép dẹp và dài đập cho thịt bè ra, tém thịt lại rồi lại đập. Xong ướp đường, bột ngọt, muối, tiêu, tỏi và hành tím. Bỏ thịt vô cối quết. Cuối cùng vò viên bỏ vô nồi nước đang sôi. Hàng trăm viên thịt bò bằng nhau luộc chín sẽ nổi lên thì lấy vợt trụng mì vớt nó ra ngoài. Nồi nước luộc bò vò viên làm nước lèo.

Tương đen trộn với tỏi xay nhuyễn, chút nước cốt dừa bắc lên bếp, xào xong bỏ vô hũ. Sa tế là ớt tươi, ớt khô, ớt bột với dầu ăn, hăng hăng nồng lỗ mũi, vô một hũ. Xắt sẵn ngò gai bỏ vô một cái thố.”

Rạp Vĩnh Lợi, Mỹ Tho.

Xong xả, tắm, mặc cái quần tiều dài quá gối, áo ba túi may bằng vải ka ki. Ăn cơm trưa rồi đẩy xe đi bán.

Xem thêm:   Chủ tiệm nước

Xe có nồi nước lèo rất lớn. Có hộc kiếng đựng bò vò viên. Có tô vừa, chén nhỏ, nĩa nhỏ có hai chia.

So với ba chục đồng, giá tiền một tô hủ tiếu thời đó, 4 cục bò vò viên lớn bằng đầu ngón tay cái mà giá tới 20 đồng thì hơi mắc.

Muốn ăn bò vò viên, đàn bà thì sai chồng; con gái thì sai em xách gà mên mua về. Yểu điệu thục nữ mà ăn dọc đường, dọc sá sợ chết cái duyên em.

Nên khách toàn là đàn ông. Gần đó, căn nhà xưa thời Pháp thuộc, là hậu trạm của một phi đội L-19, máy bay đầm già thám sát cho Sư đoàn 7. Những phi công mặc áo liền quần màu đen, thêu con rồng trên ngực áo, vai lon trung úy.  Ði bay về, cả bọn hay ra xe bò vò viên của chú Tiều đổ xí ngầu lắc.

Xí, ngầu, lắc là bốn, năm, sáu. Tiếng Tiều: xập xí; xập ngầu, mười bốn, mười lăm nghĩa là không rõ ràng, không chắc chắn. Hột xí ngầu có sáu mặt. 1 chấm với 4 chấm màu đỏ.  2, 3, 5, 6 chấm màu đen.

Xe hủ tiếu bò viên

Khách nắm tay ba hột xí ngầu đổ xuống một cái tô. Ba hột có mặt giống nhau gọi là bão. Khách ăn ván đó ngay lập tức. Hai hột có chấm giống nhau, tính điểm hột thứ ba. Từ 4 viên giá 20 đồng, thắng được 8 viên. Thắng nữa được 16 viên, lúc đó mới được ngưng chơi. Ăn no cành hông mà chỉ tốn có 20 đồng.

Còn tiếp tục đổ nữa gọi là nhồi. Từ 16 gấp đôi thành 64, 128, 256 viên. Lỡ thua một cái là mất hết.

Xem thêm:   Bò bía

Mỗi lần khách đổ ăn, chú Tiều chung một đồng xu. Xong cuộc, đếm đồng xu là biết ăn được bao nhiêu viên. Ăn không hết, gởi lại, mai ăn nữa.

Khách chơi xí ngầu lắc cũng có đứa xấu tánh. Ăn thì la rùm. Thua mặt dài như mặt ngựa, chửi thề ỏm tỏi.

Chú Tiều ăn thua gì mặt cứ tỉnh rụi. Không cười xỏ, không nhăn nhó. Sợ chọc quê, nó thua, nó quánh cho thấy bà.

Cũng có bữa xui, bị tổ trác. Mới đẩy xe ra, chưa bán được cắc nào, đổ thua một tay phi công hết 256 viên. Chú năn nỉ ăn bi nhiêu thì bi! Mai lại ăn tiếp! Nó không chịu. Nó chạy về nhà, rinh ra một cái nồi ế kinh, bắt chú Tiều chung đủ. Vừa múc bò vò viên cho nó, chú lầm bầm chửi thề bằng tiếng Tiều trong miệng.

Có lần hai thằng công an chìm thua quá, tức, nó lấy 3 hột xí ngầu bỏ vô túi. Chú Tiều năn nỉ gần gãy lưỡi nó mới cho chuộc lại. Năn nỉ tốn tiền chuộc? Mua 3 hột khác. Chú Tiều nói với tui là trong ruột hột xí ngầu nó có chứa thuỷ ngân. Ðổ quen tay, muốn ra mấy nút thì ra.

Chiều cuối năm, lục bọc bò vò viên em yêu bỏ trong tủ đá. Nước súp có ngò gai, có tương ớt, sa tế đủ cả. Ăn bò vò viên; uống với bia lon! Sao tui không thấy sừn sựt ngon như ngày xưa ấy. Hình như nó thiếu mất cái hồn cố thổ khi còn phải xa quê!

ĐXT