Trận đánh tái chiếm cổ thành Quảng Trị kéo dài 81 ngày trong Mùa Hè đỏ lửa 1972 là một trong những trận đánh dài và khốc liệt nhất trong chiến tranh Việt Nam. Đây cũng là một chiến tích hào hùng của quân lực Việt Nam Cộng Hòa trước năm 1975. Trong tạp chí tháng Tư trên trang mạng khảo cứu lịch sử historynet, Thiếu Tướng hồi hưu John Howard, một sĩ quan West Point và cựu cố vấn cao cấp tại chiến trường Việt Nam vào năm 1972 đã viết lại diễn biến toàn bộ chiến dịch và trận tái chiếm lịch sử này. Chuyên mục xin tóm dịch và giới thiệu lại cùng quý độc giả bài viết sẽ chia làm ba kỳ này.

John Howard

Đinh Yên Thảo chuyển dịch

Kỳ một

Chiến Dịch Phục Sinh

Nằm gần các mật khu phía Bắc khu phi quân sự (DMZ) và giáp Lào, Quảng Trị là một chiến trường đụng độ liên tục trong chiến tranh Việt Nam. Các ủy viên Bộ Chính Trị Bắc Việt gọi đây là “mặt trận rực lửa” và Lê Duẩn xem Quảng Trị là “thành phố cách mạng anh dũng” khi tái thiết lại cổ thành này vào năm 1980. Các hướng dẫn viên du lịch tại đây thường giới thiệu với du khách ngoại quốc và ca ngợi sự anh hùng của những người cộng sản trong cuộc Tổng tấn công Xuân-Hè 1972. Nhưng họ không hề nhắc đến rằng, quân cộng sản đã chiếm được cổ thành này vào ngày 1 tháng 5 năm 1972 và lính Thủy Quân Lục Chiến của miền Nam Việt Nam đã anh dũng tái chiếm lại sau 5 tháng.

Cuộc tấn công mở màn của Bắc Việt diễn ra vào ngày 30 tháng 3, tức ngày thứ Năm trước lễ Phục sinh. Nó thường được gọi là Chiến Dịch Phục Sinh (The Easter Offensive, theo cách gọi của Mỹ  và Mùa Hè Ðỏ Lửa của VNCH), là chiến dịch lớn nhất trong cuộc chiến. Quân cộng sản tấn công bằng các đơn vị chủ lực trong mục đích giành chiến thắng quyết định, không đánh du kích và dùng các đơn vị nhỏ  làm tiêu hao lực lượng khiến quân Mỹ  mệt mỏi và rút quân như trước kia. Chiến lược đánh dai dẳng bị loại bỏ để Bắc Việt dốc một canh bạc “được ăn cả, ngã về không” (go-for-broke) nhằm đánh bại quân lực Việt Nam Cộng Hòa và lật đổ chính phủ Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu.

Xem thêm:   Rượu thủ công

Quân Bắc Việt tràn qua DMZ và vượt qua Lào dọc theo Quốc lộ 9, hướng đến cố đô Huế, khởi đầu chiến dịch bằng 3 cuộc tấn công vào các vùng khác nhau của Nam VN. Rạng sáng ngày 3 tháng Tư, cộng quân tấn công vào các căn cứ hỏa lực vùng cao nguyên, mở màn với trận đánh vào Kontum với mục tiêu tối hậu là cắt đôi Nam VN ở trung lộ. Ở phía Nam thì 4 ngày sau, tại khu vực quanh Sài Gòn, cộng quân tràn qua Lộc Ninh, một khu vực tiền đồn được phòng thủ chắc chắn tại vùng biên giới Campuchia và bao vây An Lộc, chỉ cách Sài Gòn khoảng 60 dặm.

Căn cứ Carroll – nguồn discover.hubpages.com

Lực lượng tấn công của quân Bắc Việt có khoảng 30,000-40,000 quân từ 3 sư đoàn thiện chiến là 304, 308 và 325C, đã cùng với 200 chiến xa và các khẩu đội phòng không, tấn công vào một lữ đoàn mong manh của quân đoàn Thủy Quân Lục Chiến và Sư đoàn 3 quân lực VNCH. Trung tướng Hoàng Xuân Lãm, người đứng đầu Quân đoàn I đóng tại Ðà Nẵng đã bỏ qua các báo cáo tình báo cho thấy kẻ thù đã tập trung lực lượng lớn khắp DMZ và ra lệnh chuyển quân giữa hai căn cứ hỏa lực của Sư đoàn 3 vào ngày 29 tháng 3. Mệnh lệnh sai thời điểm của ông đã thêm vào tình trạng hỗn loạn khi cộng quân tấn công vào ngày hôm sau.

Thủy Quân Lục Chiến và Sư đoàn 3  ở ngay phía Nam DMZ và ở chân đồi phía Tây đều bị tấn công dữ dội  vào Chủ Nhật Phục sinh, ngày 2 tháng Tư. Trung tá QLVNCH Phạm Văn Ðính, chỉ huy trưởng Trung đoàn 56 của Sư đoàn 3, đã đầu hàng toàn bộ đơn vị của mình cùng căn cứ Carroll, một căn cứ hỏa lực cũ của Thủy quân Lục Chiến Mỹ. Trung Tá Ðính cũng không cho phá hủy kho đạn lớn hoặc vô hiệu hóa hơn 20 khẩu pháo, trong đó có 4 khẩu 175 mm.

Xem thêm:   Những ngôi làng thời hậu chiến

Các cố vấn trung đoàn quân đội Mỹ là Trung tá Bill Camper và Thiếu tá Joe Brown đã gửi một tin vô tuyến ngắn gọn cho biết họ sẽ rời khỏi căn cứ. Vì lý do an ninh, họ không cho biết Trung đoàn 56 đã đầu hàng hàng loạt. Một trung tá mới được thuyên chuyển đến gởi ra một mệnh lệnh  “Không được rời căn cứ!”. Camper và Brown bất chấp mệnh lệnh nhằm tránh bị bắt và rời trên chiếc trực thăng Chinook CH-47 do Ðại úy Harry Thain lái, người về sau đã nhận được huân chương cho cuộc giải cứu táo bạo này.

Cộng quân chiếm căn cứ Carroll – nguồn mạnh hải/flickr

Việc mất căn cứ Carroll dẫn đến một cuộc triệt thoái quân về các vị trí gần thị xã Ðông Hà. Các cuộc không kích của Hoa Kỳ đã giúp chậm bước quân Bắc Việt. Tuy nhiên, những nỗ lực nhằm thiết lập một hàng phòng thủ liên hoàn đã bị thất bại bởi Tư Lệnh Quân đoàn I liên tục ra các lệnh thiếu sự phối hợp. Ngày 28 tháng 4, Ðông Hà thất thủ. Ba ngày sau thành Quảng Trị tan hoang, quân đội triệt thoái.

Tình trạng hỗn loạn đã diễn ra. Thủy quân lục chiến VNCH giữ vững kỷ luật và chặn đứng đường tiến quân của cộng quân bằng một tuyến phòng thủ kiên cố dọc theo sông Mỹ Chánh, cách Huế 15 dặm.

Những thành công ban đầu của phe cộng sản đã củng cố sự lạc quan của những lãnh đạo diều hâu trong Bộ Chính trị Bắc Việt và gạt qua những thành viên muốn có sự thận trọng. Lê Duẩn, thủ lĩnh của phe chủ chiến, cương quyết cho rằng môi trường chính trị tại Hoa Kỳ sẽ ngăn cản Tổng thống Richard Nixon có phản ứng mạnh mẽ vì năm 1972 là năm bầu cử tổng thống và công chúng Hoa Kỳ bị xem đã mệt mỏi với chiến tranh . Ðó là một suy đoán hoàn toàn sai lầm về Tổng thống Hoa Kỳ.

Cộng quân chiếm Quảng Trị vào ngày 29 tháng 4, dân chúng đổ dồn về Huế. nguồn AP

Tuy nhiên, vào thời điểm này trong cuộc chiến, các chọn lựa đáp trả mạnh mẽ từ Hoa Kỳ bị hạn chế. Vào ngày 30 tháng 4 năm 1972, có 68,100 lính Mỹ ở Việt Nam, giảm từ mức cao nhất là 543,100 quân vào tháng 4 năm 1969. Năm đó, chính quyền Nixon khởi xướng chương trình Việt Nam hóa chiến tranh, rút ​​dần quân đội Mỹ để chuyển giao trách nhiệm chiến đấu cho miền Nam Việt Nam. Chỉ còn lại hai lữ đoàn chiến đấu của Mỹ, một ở phía bắc Nam Việt Nam và một ở khu vực Sài Gòn với nhiệm vụ chính của họ là bảo vệ các căn cứ không quân và cơ sở hậu cần của Hoa Kỳ.

Xem thêm:   Ngu-khôn, tốt-xấu

Nixon loại trừ việc điều quân bộ binh mà tấn công bằng không quân. Ông điều động thêm phi cơ đến Ðông Nam Á, tiếp tục ném bom ra mạn Bắc và ra lệnh thả mìn phong toả các cảng của Bắc Việt Nam. Không quân Hoa Kỳ và các chiến đấu cơ trên các hàng không mẫu hạm, với 206 phi cơ B-52 thả bom và hơn 800 phản lực chiến đấu đã sẵn sàng cho cuộc chiến. Vào đầu tháng Năm thì tình thế tại miền Nam Việt Nam bị xem là lâm vào tình trạng nguy hiểm nghiêm trọng

Việc mất Quảng Trị và hỗn loạn tại Huế đã dẫn đến quyết định từ Tổng Thống Thiệu là tướng Lãm phải bị thay. Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, tư lịnh vùng đồng bằng sông Mekong và được xem là một trong những tướng tài nhất của miền Nam VN sẽ thay thế. Tướng Trưởng cùng các sĩ quan tùy tùng bay ra vùng Một trong vòng 24 tiếng. Quân lực VNCH chuẩn bị phản công.

(còn tiếp)

Nguon: historynet.com