Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đã loan báo những ngày đáo hạn chiếu khán (visa) di dân trong tháng 10 năm 2019. Những ngày đáo hạn cho biết thời gian ước lượng mà thân nhân của quý vị sẽ phải chờ ở Việt Nam cho đến khi hợp lệ để được phỏng vấn chiếu khán di dân. Những ngày đáo hạn thay đổi mỗi tháng tùy vào số đương đơn hợp lệ đã thực sự nộp đơn xin chiếu khán hoặc nộp đơn xin Thẻ Xanh tại Hoa Kỳ. Vì thế, không thể đoán chính xác những ngày đáo hạn tiến nhanh hay chậm.

Trong diện bảo lãnh F-1 dành cho những người con trên 21 tuổi, độc thân, ngày đáo hạn trong tháng 10 là tháng Giêng 2013. Ðiều này có nghĩa là thời gian chờ đợi ít nhất là 6 năm, đương đơn mới có thể được xếp lịch phỏng vấn tại Tòa lãnh sự Hoa Kỳ ở Việt Nam.

Về những hồ sơ bảo lãnh diện F2A của người hôn phối và những người con độc thân dưới 21 tuổi của các Thường trú nhân Hoa Kỳ, hiện nay đều được xem là đáo hạn. Kể từ tháng Bảy vừa qua, diện F2A đều được đáo hạn. Có nghĩa là không cần phải chờ đợi nếu hồ sơ bảo lãnh đã được Sở di trú chấp thuận và chuyển sang Trung Tâm Chiếu Khán Quốc Gia (NVC). Tuy nhiên, người ta chưa biết diện bảo lãnh này sẽ tiếp tục Ðáo Hạn bao lâu.

F2B là diện bảo lãnh những người con độc thân trên 21 tuổi của Thường trú nhân. Ngày đáo hạn của diện này là tháng Sáu năm 2014, có nghĩa là họ sẽ phải đợi ít nhất 5 năm mới có thể nộp đơn xin chiếu khán di dân.

F3 là diện bảo lãnh các con đã kết hôn của công dân Hoa Kỳ và những trẻ em dưới 21 tuổi. Ngày đáo hạn của nhóm bảo lãnh này thường di chuyển khá chậm và hiện nay là tháng Chín năm 2007, có nghĩa là phải chờ khoảng 12 năm.

Xem thêm:   Hồ sơ di trú tồn đọng giảm

F4 là diện bảo lãnh anh chị em của công dân Hoa Kỳ và các con độc thân của họ dưới 21 tuổi. Nhóm bảo lãnh này luôn luôn có thời gian chờ đợi khá lâu, hiện nay khoảng 13 năm, và ngày đáo hạn trong tháng 10 là tháng 11 năm 2006.

Không có thời gian chờ đợi đối với những thân nhân trực hệ của công dân Hoa Kỳ, có nghĩa là bảo lãnh người hôn phối, các con độc thân dưới 21 tuổi và cha mẹ. Diện bảo lãnh hôn thê/hôn phu của công dân Hoa Kỳ cũng không có thời gian chờ đợi.

Ngày công dân từng được gọi: “Tôi là một ngày của người Mỹ”

Ngày 17 tháng Chín hiện nay được gọi là Ngày Công Dân, nhưng nó từng được gọi: “Tôi là một ngày của người Mỹ”. Một người tỵ nạn Ba Lan tổ chức ăn mừng “Tôi là một ngày của công dân Mỹ” đầu tiên vào ngày 31 tháng Năm năm 1938 tại khu ngoại ô của thành phố Nữu Ước.

Trong tháng Năm 1940, Quốc hội Hoa Kỳ chọn Chủ Nhật thứ ba trong tháng Năm là ngày “Tôi là một ngày của công dân Mỹ”. Chọn ngày này cũng là một thách thức đối với ngày kỷ niệm trong tháng Năm của các nước cộng sản trước đây.

Trong Thế Chiến Thứ Hai, chính phủ Hoa Kỳ rất hoan nghênh người tỵ nạn, nhưng có nghĩa là người tỵ nạn ở phía Tây Âu Châu, chứ không phải phần còn lại của thế giới. Thí dụ, một số lễ mừng ngày “Tôi là một ngày của người Mỹ” tránh không nhắc đến những người Hoa Kỳ gốc Nhật. Trong thế chiến, công dân Hoa Kỳ có gốc là người Nhật đã bị đưa đến những trại tập trung để kiểm sóat.

Lễ mừng “Tôi là một ngày của người Mỹ” nổi tiếng nhất được tổ chức vào ngày 21 tháng Năm năm 1944, khi một chánh án liên bang đã nói chuyện với 1 triệu 500 ngàn người tham dự ngày lễ có sự tham dự của 150,000 người trở thành công dân Hoa Kỳ tại công viên Central Park ở thành phố Nữu Ước. Ông đã mô tả Hoa Kỳ là một quốc gia của những người di dân đã can đảm thoát khỏi quá khứ và dũng cảm trước sự nguy hiểm và sự cô đơn của một vùng đất xa lạ để tìm kiếm tinh thần tự do, đó là “tự do khỏi áp bức, tự do khỏi sự lệ thuộc, tự do cho chính mình”.

Xem thêm:   Người di dân Trung Quốc tại biên giới San Diego

Sau khi chiến tranh chấm dứt vào năm 1945, không còn nhiều hăng hái để ăn mừng “Tôi là một ngày của người Mỹ” nữa. Năm 1952, ngày này được đổi tên là Ngày Công Dân và dời sang tháng Chín, vì ngày 17 tháng Chín là ngày Hiến Pháp Hoa Kỳ ra đời.

Hôm nay, khi Hoa Kỳ bàn về quyền công dân và ai sẽ trở thành công dân Hoa Kỳ thì sự kết nối giữa Ngày Hiến Pháp và Ngày Công Dân vẫn tiếp diễn. Và từ ngày 13 tháng Chín đến ngày 23 tháng Chín, gần 34,000 người đã chào mừng theo một cách đặc biệt khi được tuyên thệ trở thành công dân Hoa Kỳ ở 316 buổi lễ trên toàn quốc.

Tồn đọng hồ sơ N-400 làm cho thời gian chờ nhập quốc tịch lâu hơn

Hàng ngàn người đã làm mọi điều để có thể được nhập tịch Hoa Kỳ nhưng bị khựng lại vì sự tồn đọng đơn N-400 xin nhập tịch Hoa Kỳ. Một bản tường trình mới đây cho biết bước sau cùng để nhập tịch đã kéo dài lâu hơn. Nhiều hồ sơ đã phải chờ 18 tháng, gấp đôi thời gian kể từ năm 2016. Các nhân viên di trú USCIS cho biết hiện nay bị tồn đọng khoảng 700,000 đơn, bị tích lũy từ năm 2006.

Sở di trú nói rằng tiến trình giải quyết đang cải thiện và giải thích rằng việc tồn đọng quốc tịch hóa đang chờ giải quyết đã tăng vọt dưới thời hành pháp của ông Obama, hơn gấp đôi từ 291,800 đơn trong tháng Chín 2010 đã lên gần 700,000 đơn bắt đầu năm 2017. Mặc dù công việc tràn ngập, Sở di trú nói rằng đang hòan tất nhiều đơn xin nhập tịch, hiệu quả nhiều hơn.

Xem thêm:   Hồ sơ di trú tồn đọng giảm

Sở di trú kỳ vọng rằng sự tồn đọng sẽ bớt đi rất nhanh và nói rằng sự chờ đợi thường do số đơn tăng hơn là vì lý do duyệt xét chậm. Ðó là lý do tại sao Sở di trú thực hiện một số cải tổ điều hành và phương pháp, thuê thêm nhân viên và mở rộng những nơi làm việc để bảo đảm khả năng điều hành trước nhịp độ chậm chạp trước nhu cầu đòi hỏi quá cao trong dịch vụ di trú trong những năm gần đây.

LMH

San Jose, CA.


Hỏi đáp di trú

 

Hỏi: Liệu có những thay đổi nào sắp tới về những điều luật bảo lãnh gia đình không?

Đáp: Những thay đổi về luật di trú đòi hỏi phải có sự chấp thuận của cả hai đảng chính ở quốc hội, vì thế, sẽ không có những thay đổi như mong đợi cho đến năm 2022 hoặc lâu hơn.

Hỏi: Hai diện bảo lãnh F3 và F4 di chuyển rất chậm. Điều gì sẽ xảy ra nếu các con của họ trên 21 tuổi trong khi chờ đợi ngày đáo hạn?

Đáp: Ðạo Luật Bảo Vệ Tuổi Trẻ Em (tức Child Status Protection Act – CSPA) có thể giúp một số hồ sơ. Khi Sở di trú cần nhiều thời gian để duyệt xét hồ sơ thì thời gian duyệt xét này sẽ được trừ vào số tuổi của trẻ em. Trong nhiều hồ sơ, người con được xem dưới 21 tuổi theo Ðạo Luật Bảo Vệ Tuổi Trẻ Em.

Hỏi: Khi một người ngọai quốc sinh con ở Hoa Kỳ, ai sẽ được hưởng ích lợi?

Đáp: Lợi ích thuộc về tương lai của người con. Các thành viên gia đình của người con này không được hưởng lợi ích vì người con không thể bảo lãnh họ cho đến khi 21 tuổi.