Trong nhiều thế kỷ qua, các quốc gia cạnh tranh lẫn nhau để phân chia đất đai trên thế giới. Hầu như mỗi tấc đất nằm bên ngoài khu vực Nam Cực hiện nay đều đã có chủ và nằm trong phạm vi biên giới của các quốc gia. Tuy nhiên, phần lớn các đại dương vẫn chưa nằm trong sự phân chia đó.
Trong lịch sử, từng có những thời điểm các quốc gia cố gắng kiểm soát và đặt ra quy định cho các vùng biển, nhưng biển thì quá rộng lớn để có thể kiểm soát trong thời gian dài. Trong thời chiến tranh lạnh, mặc dù với tiến bộ kỹ thuật giúp cho việc phân chia các tuyến đường thủy và đáy biển trên thế giới trở nên dễ dàng hơn, các cường quốc vẫn tránh lao vào một cuộc đua không kiểm soát nhằm thâu tóm đại dương vào trong tay mình. Thay vào đó, hầu hết các chính phủ đã đồng ý quản lý phần đại dương thông qua các hiệp ước và các tổ chức đa phương, nhằm bảo đảm quyền tự do hàng hải trên vùng biển quốc tế và phân chia thềm đại dương ven bờ cho các quốc gia có biên giới giáp biển.
Trật tự đó hiện đang bị sụp đổ. Lực lượng dân quân Houthi đang gây gián đoạn hoạt động vận tải tại eo biển Bab el-Mandeb, cửa ngõ dẫn vào Hồng Hải. Hai quốc gia Iran và Oman thì đang lên kế hoạch thu phí các tàu thuyền đi qua eo biển Hormuz, một điểm nghẽn huyết mạch đối với nguồn cung năng lượng và phân bón toàn cầu.
Các chính phủ khác cũng đang tranh giành quyền kiểm soát vùng biển quốc tế và các nguồn tài nguyên biển. Nga đang nỗ lực khẳng định quyền kiểm soát của họ đối với vùng biển và đáy biển rộng lớn ở Bắc Cực; Trung Quốc đang xây dựng các hòn đảo nhân tạo ở Biển Đông; và nhiều quốc gia khác đang đặt nền móng cho việc khai thác khoáng sản thiết yếu dưới đáy đại dương.
Các định chế từng duy trì sự tự do và rộng mở của đại dương đang dần mất hiệu lực, và tại những khu vực then chốt, các cường quốc đã ngừng tuân thủ những quy tắc vốn được duy trì suốt nhiều thập niên qua. Nhiều quốc gia đang thực hiện những bước đi nhằm kiểm soát biển cả. Nếu các chính phủ vội vã tranh giành quyền kiểm soát các vùng biển thế giới, giống như cách họ từng làm với đất liền, những chính phủ đó sẽ gây trở ngại cho thương mại toàn cầu và châm ngòi cho một kỷ nguyên mới của các cuộc xung đột trên biển. Một thế giới nơi đại dương bị chia cắt chắc chắn sẽ trở nên nghèo nàn hơn và nguy hiểm hơn.
Các hành vi vi phạm
Việc đóng cửa eo biển Hormuz và eo biển Bab el Mandeb chỉ là hai sự kiện mới nhất trong chuỗi các hành vi vi phạm những chuẩn mực và quy tắc quản lý đại dương. Chẳng hạn, Trung Quốc thường xuyên phớt lờ phán quyết có tính ràng buộc pháp lý năm 2016 theo Công ước Liên hiệp quốc về Luật Biển (UNCLOS) – phán quyết bác bỏ các yêu sách chủ quyền quá mức của nước này tại Biển Đông. Bắc Kinh đi ngược lại phán quyết đó bằng cách tiếp tục xây dựng đảo nhân tạo trên các rạn san hô đang có tranh chấp, xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế của Philippines và bao vây Đài Loan. Về phần mình, Nga bị nghi ngờ vi phạm các quy tắc của UNCLOS khi sử dụng tàu thuyền che giấu danh tính để cắt một số dây cáp ngầm dưới biển, như một phần trong chiến dịch rộng lớn hơn nhằm gây bất ổn cho các quốc gia châu Âu.
Tình trạng hung hăng này diễn ra phần lớn là do các định chế chịu trách nhiệm quản lý đại dương hoạt động kém hiệu quả. Tòa án Quốc tế về Luật Biển, cơ quan có chức năng hòa giải các tranh chấp hàng hải, lại hoạt động chậm chạp và thiếu cơ chế thực thi phán quyết. Tình trạng tương tự cũng diễn ra tại Tòa trọng tài Thường trực, nơi đưa ra các phán quyết ràng buộc về những vi phạm hiệp ước. Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc, cơ quan có thể áp đặt các biện pháp trừng phạt kinh tế hoặc thậm chí cho phép hành động quân sự để bảo vệ hoạt động vận tải đường biển, thì hầu như luôn rơi vào thế bế tắc do quyền phủ quyết từ Trung Quốc, Nga hoặc Hoa Kỳ. Việc trừng phạt những kẻ phá hoại cơ sở hạ tầng ngầm dưới biển còn trở nên phức tạp hơn bởi các quy định về thẩm quyền tài phán. Chỉ quốc gia nơi tàu có đăng ký mới có thẩm quyền truy tố, do đó các quốc gia đứng sau hành vi phá hoại có thể bảo vệ thủy thủ đoàn gây rối của họ bằng cách không tiến hành các thủ tục pháp lý.
Các cuộc tranh giành
Các cuộc tranh chấp trên đại dương không chỉ giới hạn ở việc kiểm soát các tuyến đường vận tải. Trong khi Trung Quốc dần chiếm ưu thế và biến nguồn cung toàn cầu hiện có về các loại khoáng sản thiết yếu trên đất liền thành vũ khí chiến lược, các quốc gia khác đang xem xét khả năng khai thác khoáng sản nằm sâu dưới đáy biển.
Cuộc đua giành các khoáng sản thiết yếu dưới đáy biển có thể trở nên gay gắt trong tương lai. Hoa Kỳ là cường quốc ven biển lớn duy nhất chưa từng phê chuẩn công ước UNCLOS. Không bị ràng buộc bởi các quy định của Cơ quan Quản lý Đáy biển Quốc tế (ISA), đồng thời muốn giảm bớt sự phụ thuộc vào Trung Quốc và đáp ứng nhu cầu khổng lồ về khoáng sản phục vụ cho lĩnh vực phát triển trí tuệ nhân tạo cùng các ngành kỹ thuật tiên tiến khác, chính quyền Trump đang đẩy nhanh quy trình cấp phép khai thác dưới biển sâu tại một số khu vực thuộc Vùng Clarion-Clipperton (phía bắc Thái bình dương, giữa Hawaii và Mexico), nơi Hoa Kỳ vốn đã nắm quyền kiểm soát trên thực tế. Các cơ quan quản lý của chính phủ Hoa Kỳ dự kiến sẽ đưa ra quyết định trong năm tới đối với hàng loạt hồ sơ xin cấp phép khai thác thương mại dưới biển sâu, qua đó có thể mở đường cho việc sớm bắt đầu hoạt động khai thác.
Trong tương lai, các quốc gia có thể sẽ cạnh tranh gay gắt hơn để giành lấy phần chia của mình trên biển.
Mỗi tiền lệ bị phá vỡ sẽ khiến việc phớt lờ hoặc biện minh cho hành động tương tự tiếp theo trở nên dễ dàng hơn. Các cường quốc ven biển sẽ dần tin rằng đại dương là nơi họ có thể tùy ý chiếm đoạt. Bài học đó sẽ không chỉ dừng lại ở việc thu phí tàu thuyền hay tuyên bố chủ quyền đối với đáy biển. Các quốc gia sẽ khẳng định quyền sở hữu các ngư trường, can thiệp vào hệ thống cáp ngầm dưới biển, và thậm chí có thể chiếm đóng hoặc bao vây các hòn đảo. Sự xói mòn trong việc điều hành quản lý đại dương có thể mở đường cho Trung Quốc phong tỏa Đài Loan hoặc Nga siết chặt kiểm soát quần đảo Svalbard của Na Uy.
Sự sụp đổ của trật tự hàng hải quốc tế cũng có thể châm ngòi cho một cuộc tranh giành khu vực Nam Cực. Trong thời chiến tranh lạnh, các cường quốc đã ký một hiệp ước nhằm ngăn chặn các yêu sách lãnh thổ đối với châu lục này và quy định đây là khu vực dành cho hợp tác và nghiên cứu khoa học. Tuy nhiên, hiệp ước đó hiện đang trở nên mong manh. Trung Quốc đang nhanh chóng mở rộng đội tàu phá băng và xây dựng các trạm nghiên cứu tại Nam Cực, những cơ sở mà giới quan sát Hoa Kỳ và châu Âu lo ngại có thể mang lại khả năng lưỡng dụng (vừa phục vụ dân sự vừa phục vụ quân sự), là điều vốn bị cấm theo hiệp ước. Tình trạng băng tan và những tiến bộ kỹ thuật cũng có thể mở ra cơ hội khai thác khoáng sản tại châu lục này. Nếu một cuộc tranh giành quyền kiểm soát Nam Cực nổ ra, hàng loạt quốc gia có thể khơi lại các yêu sách lãnh thổ cũ và chạy đua xây dựng các trạm theo dõi vệ tinh tại đây nhằm thu thập thông tin tình báo, giám sát cũng như phục vụ các mục đích quân sự khác.
Hậu quả
Trong một thế giới nơi các vùng biển bị tranh chấp, hoạt động thương mại sẽ bị đình trệ do tàu thuyền buộc phải di chuyển theo lộ trình quanh co và gánh chịu các khoản phí ngày càng tăng tại những điểm trung chuyển. Hàng hóa sẽ trở nên đắt đỏ hơn, trong khi chuỗi cung ứng trở nên bấp bênh và dễ bị gián đoạn. Đại dương sẽ bị phân chia thành lãnh thổ của nhiều quốc gia. Và nếu rơi vào tay những chính phủ thiếu trách nhiệm, các nguồn tài nguyên cùng hệ sinh thái biển, bao gồm cả việc đánh bắt cá, có thể phải hứng chịu những tổn hại nghiêm trọng lâu dài.
Cuộc tranh giành đại dương rốt cuộc có thể diễn ra tương tự như quá trình chiếm hữu đất liền, trong đó các quốc gia hùng mạnh nhất, hoặc những nước nhanh chân đi trước, sẽ giành quyền sở hữu tài nguyên. Số lượng các điểm nóng địa chính trị sẽ gia tăng khi các chính phủ đổ xô tranh giành phần chia đại dương và dùng vũ lực để bảo vệ các tuyên bố chủ quyền của mình.
VH









