Tuyên truyền của phía chiến thắng tràn ngập youtube với vô vàn các video ngụy tạo nhằm bôi nhọ Quân đội Quốc gia. Phát thanh cũng qua Youtube, trang Ký Sử 1975 cho cách nhìn trung tính hơn về nội chiến. Người xưa không lấy thành bại để luận anh hùng nhưng trọng lòng quả cảm lúc sống và lúc chết. Tiêu chuẩn đó vẫn đúng cho các quả phụ của những sĩ quan đã tuẫn tiết, vì bằng nghị lực phi thường, họ đã giữ tiết tháo của chồng mình không hoen ố. Câu chuyện đời bà quả phụ Phan Thị Minh Yến, tự thân là một tấm gương.

Chép lại từ bản thu âm phát thanh trên youtube dưới tựa “Chồng Tuẫn Tiết ở Lai Khê, Vợ Ôm 4 Con Sang Mỹ và Từ Chối Mọi Vinh Danh”, tôi chọn thay tựa, vì quá dài, bằng tựa “Chiếc rương gỗ mang từ Hải Phòng”. Vì gia đình cô Phan Thị Minh Yến khi di cư từ Hải Phòng mang theo chiếc rương gỗ chứa những gì quý giá nhất và gìn giữ cho đến cuối tháng 4-75. Nếu Phan Thị Minh Yến buộc phải rời Sàigòn không thể mang theo vì quá nặng, chiếc rương đó hiện diện trong suốt đời bà. Nếu bà đành bỏ lại hòm gỗ, bà đã mang theo được những gì trân quý cất giữ bên trong.

Trang Ký Sử 1975 ẩn danh, không nêu tên người viết thoại và đọc, nhưng là một văn bản thu thanh hoàn chỉnh.

[Trần Vũ]

4 kỳ – kỳ 3

Lai Khê sáng ngày 30 tháng 04 năm 1975

Bên ngoài hàng rào căn cứ mọi thứ đã ngừng lại. Căn cứ Lai Khê nằm trên quốc lộ 13 phía Bắc Sài Gòn giữa những rừng cao su thẳng hàng. Là nơi đặt Bộ Tư lệnh Sư đoàn 5 Bộ binh đơn vị giữ tuyến phòng thủ hướng bắc của thủ đô.

Suốt những ngày cuối tháng 4, sư đoàn này bị cắt rời khỏi các đơn vị bạn. Đường bộ về Sài Gòn không còn an toàn, các vị trí chung quanh lần lượt bị tràn ngập. Trong căn cứ ấy, người chỉ huy cao nhất là tướng Lê Nguyên Vỹ.

Ông vừa qua tuổi 41 vào mùa hè năm trước. Ông đã ở trong quân ngũ hơn 20 năm kể từ khi rời làng quê Sơn Tây vào Nam năm 1954. Ông đã qua Nhảy dù qua các tiểu đoàn, qua những trận hành quân giải tỏa. Ông đã sống sót ở An Lộc trong hầm chỉ huy mà nhiều người nghĩ sẽ là mồ chôn của tất cả. Bây giờ ông ở trong Bộ Tư lệnh của chính sư đoàn ấy nghe những báo cáo cuối cùng dội về. Những ngày trước đó là chuỗi ngày dài nhất trong đời binh nghiệp của ông.

Từ khoảng ngày 26 tháng 4, sức ép của Cộng quân lên toàn tuyến phía Bắc tăng lên từng giờ. Các đơn vị của sư đoàn phải co cụm lại quanh trục lộ 13. Thương binh chuyển về mỗi lúc một nhiều, trong khi đường tản thương đã tắc, liên lạc với Bộ Tổng Tham mưu lúc được lúc mất. Ở bên trong căn cứ, những người có mặt kể lại rằng vị tư lệnh gần như không ngủ trong nhiều ngày liền. Ông đi kiểm tra các vị trí, nghe báo cáo rồi lại trở về phòng chỉ huy ngồi trước tấm bản đồ. Những người từng phục vụ dưới quyền ông đều nhớ về ông theo cùng một cách. Ông là mẫu chỉ huy khó tính, đòi hỏi rất cao ở hàng sĩ quan và khắt khe với chính bản thân mình. Trước hết ông không thích lối sống phô trương của một số người cùng cấp. Ông ăn uống đơn giản ở trong khu bộ tư lệnh, ít về Sài Gòn, với binh sĩ thường ông nghiêm nhưng công bằng và họ biết rất rõ điều đó.

Buổi sáng hôm đó, chiếc radio trong phòng chỉ huy được bật lên. Đài phát thanh Sài Gòn khoảng giữa buổi sáng, giọng của tân Tổng thống Dương Văn Minh vang lên trên làn sóng. Lệnh được đưa ra rất rõ ràng. Quân đội Việt Nam Cộng hòa buông vũ khí, các đơn vị ở đâu ở yên đó chờ bàn giao. Từ Cà Mau lên tới vùng cao nguyên, hàng trăm nghìn người lính cùng nghe một lệnh giống nhau vào cùng một thời khắc. Trong phòng chỉ huy ở Lai Khê không ai nói gì trong một lúc lâu. Với những người có mặt hôm đó, khoảnh khắc ấy là một thứ rất khó gọi tên. Nó không phải trận đánh, không có tiếng nổ, không có lệnh xung phong, không có ai bị thương.

Chỉ có một giọng nói phát ra từ chiếc radio và sau giọng nói đó, mọi thứ họ từng phục vụ đều không còn nữa. Nhiều sĩ quan đứng lặng, có người cởi mũ ra cầm trên tay.

Vị Tư lệnh sư đoàn cho triệu tập Bộ Tham mưu ngay sau đó. Điều ông làm trước tiên không phải là lo cho bản thân mình. Ông ra lệnh cho binh sĩ thi hành lệnh của cấp trên, buông súng và giải tán về với gia đình. Đó là quyết định phù hợp với nguyên tắc mà ông vẫn giữ suốt đời cầm quân. Ông vẫn thường nhắc rằng lính dưới quyền mình là con em các gia đình gửi gắm cho quân đội. Chiến tranh đã kết thúc, vậy thì không được để thêm bất kỳ ai chết một cách vô ích. Có người khuyên ông rời căn cứ ngay trong buổi sáng đó.

Cửa vẫn còn mở, vẫn còn phương tiện, vẫn còn vài giờ để đi. Nhiều người khác trong ngày hôm ấy đã chọn con đường ấy và không ai trách họ được. Nhưng người chỉ huy sư đoàn từ chối. Ông nói rằng ông là người đứng đầu đơn vị này nên ông sẽ ở lại với nó. Rồi ông đứng dậy chào những người có mặt trong phòng. Trong những giờ phút như thế, mỗi người chọn một cách khác nhau và mỗi lựa chọn đều có lý lẽ riêng. Phần lớn sĩ quan hôm ấy nghĩ đến gia đình mình, đến vợ con đang chờ ở nhà và họ tìm đường trở về. Đó là điều hoàn toàn bình thường của con người. Nhiều người trong số họ về sau đi tù nhiều năm rồi làm lại cuộc đời ở những nơi rất xa. Không một ai trong số đó đáng bị phán xét vì đã chọn sống tiếp. Chỉ là người chỉ huy ở Lai Khê hôm ấy đã tự đặt cho mình một tiêu chuẩn khác. Với ông, trước tiên tư lệnh không phải là một vị trí để giữ lấy quyền lợi. Nó là một ràng buộc. Và ràng buộc ấy chỉ chấm dứt khi đơn vị không còn tồn tại. Sư đoàn 5 Bộ binh vừa được lệnh giải tán ngay trước mắt ông. Đó cũng là lúc ông xem như phần việc của đời mình đã hết.

Xem thêm:   Yellowstone

Bên trong căn cứ ít phút sau, ông đi về phía chiếc giường nhỏ dùng làm nơi nghỉ của mình ngay trong khu bộ tư lệnh. Cánh cửa khép lại phía sau lưng ông. Bên ngoài, mấy sĩ quan còn đứng nguyên chỗ cũ, chưa ai kịp hiểu ra điều gì. Rừng cao su chung quanh im lắng lạ thường vì tiếng súng đã ngừng từ sáng. Rồi có một tiếng nổ khô gọn phát ra từ sau cánh cửa ấy. Mọi người chạy ùa tới. Cánh cửa được mở tung. Bên trong vị tướng tư lệnh đã nằm xuống, tay còn giữ khẩu súng ngắn của mình. Ông đi ngay lúc đó không kịp để lại một lời nào cho những người có mặt. Đồng hồ khi ấy còn chưa qua giữa trưa ngày 30 tháng 04 năm 1975. Ông là một trong 5 vị tướng của Quân đội miền Nam đã chọn cái chết trong ngày hôm ấy. 4 người còn lại là các tướng Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Trần Văn Hai và Phạm Văn Phú. Mỗi người ở một nơi khác nhau trong những hoàn cảnh khác nhau và gần như không ai kịp liên lạc với ai. Nhưng cả 5 người đều đi tới cùng một quyết định trong vòng chưa đầy 24 giờ đồng hồ. Trong số đó, tướng Lê Văn Hưng chính là người từng ở cùng hầm chỉ huy với ông tại An Lộc 3 năm trước.

Hai người từng cùng nhau giữ một thị xã và rồi cùng nhau chọn cách rời khỏi cuộc chiến. Người ta có thể đứng ở nhiều phía khác nhau để nhìn về ngày 30 tháng 04 năm 1975.Với một nửa đất nước đó là ngày thống nhất và ngày chiến thắng. Với nửa kia đó là ngày mất tất cả. Lịch sử đã sang trang từ rất lâu và những cuộc tranh luận về nó vẫn còn tiếp tục đến tận bây giờ.

Nhưng có một khía cạnh nằm ngoài mọi tranh luận vì nó thuộc về đời sống và con người. Ở Lai Khê hôm đó, một người đàn ông 41 tuổi đã chết. Ông có một người vợ 29 tuổi và 4 đứa con nhỏ đang ở cách đó nửa vòng trái đất. Ông có một người mẹ già ở Sơn Tây, người mà ông đã không gặp lại suốt 21 năm. Không ai trong số họ biết chuyện gì vừa xảy ra. Không ai trong số họ có mặt.

Trong khu rừng cao su chiều hôm ấy, những người lính còn ở lại đã lo hậu sự cho ông. Ngay tại chỗ. Không có tang lễ, không có hàng quân danh dự, không có một lời điếu nào được đọc. Thi thể vị tư lệnh được chôn trong rừng cao su gần khu bộ tư lệnh dưới những hàng cây thẳng tắp giống hệt nhau.

Ngôi mộ ấy không có bia, không có tên, không có gì để đánh dấu. Chỉ có vài người biết chính xác vị trí của nó và họ ghi nhớ bằng cách đếm số hàng cây. Rồi những người ấy cũng phải rời đi mỗi người một ngả giữa lúc cả miền Nam đang xáo trộn. Trong nhiều năm sau đó, chỗ đất ấy nằm im dưới tán cao su, không ai chăm sóc, không ai thắp một nén hương.

Tin dữ

Cùng lúc đó, ở nửa bên kia trái đất có một người đàn bà vẫn đang chờ tin. Bà không hề biết mình đã thành góa phụ. Bà vẫn giữ nếp cũ, vẫn nói với các con rằng bố còn bận việc và bố sẽ sang sau. Tin về cái chết của ông sẽ phải đi một quãng đường rất dài mới tới được tay bà qua nhiều người, nhiều chặng, nhiều tháng.

Và khi tin ấy đến nơi, nó sẽ không đến vào một lúc thuận tiện nào cả. Nó đến vào giữa những ngày mà người mẹ ấy đang phải quyết định xem 5 mẹ con sẽ sống bằng gì ở một đất nước hoàn toàn xa lạ những tháng cuối năm 1975.

Tin dữ phải đi hết nửa vòng trái đất mới tới nơi. Mùa hè năm ấy, những khu trại tạm cư trên đất Mỹ bắt đầu vãng dần.Người tỵ nạn lần lượt được các nhà thờ, các hội đoàn và những gia đình bản xứ đứng ra bảo trợ. Người ta được đưa về các tiểu bang khác nhau mỗi gia đình một nơi theo danh sách. Chỉ trong vài tháng, cả một cộng đồng vừa mất nước đã bị giải ra khắp một đất nước rộng gấp nhiều lần quê hương của họ.

5 mẹ con bà Phan Thị Minh Yến cũng rời trại theo cách như vậy. Họ đến vùng Virginia phía đông bắc, nơi mùa đông lạnh hơn mọi thứ mà 4 đứa trẻ từng biết. Căn nhà đầu tiên là nơi ở tạm do người bảo trợ thu xếp. Trong nhà có đồ đạc cũ, có chăn, có bát đĩa đều là của người khác cho. Người mẹ dọn dẹp sắp xếp, chia chỗ ngủ cho các con đúng nhưbà đã làm ở mọi nơi mình từng đến. Việc duy nhất bà chưa làm được là trả lời câu hỏi mà bọn trẻ vẫn hỏi mỗi tuần.

Mùa thu năm đó, 4 đứa trẻ được đưa tới trường công gần nhà. Chúng vào lớp mà chưa nói được mấy câu tiếng Anh giữa những bạn học tóc vàng cao lớn hơn hẳn. Buổi chiều về nhà, đứa nào cũng có chuyện để kể, phần lớn là chuyện không hiểu thầy cô nói gì. Người mẹ nghe hết rồi nói với các con một câu mà bà sẽ lặp lại suốt nhiều năm sau. Bà bảo các con cứ học, việc còn lại để mẹ lo. Khi ấy chính bà cũng chưa biết mình sẽ lo bằng cách nào. Trong túi bà còn rất ít tiền, người bảo trợ giúp được vài tháng đầu, sau đó mỗi gia đình phải tự đứng lên. Chung quanh những người Việt cùng đợt di tản cũng đang xoay sở như thế. Có người vốn là giáo sư giờ đi rửa chén. Có người từng là sĩ quan giờ làm ca đêm trong xưởng máy. Cả một tầng lớp vừa bị đặt lại từ vạch xuất phát ở tuổi mà người ta lẽ ra đã yên vị.

Xem thêm:   Ký Sử 1975 - Chiếc rương gỗ mang từ Hải Phòng

Rồi lá thư ấy đến, tin về cái chết của ông không đến bằng thông báo chính thức. Không có sĩ quan nào gõ cửa, không có lá cờ nào được gấp lại trao cho người vợ. Chính quyền mà ông phục vụ đã không còn tồn tại nên cũng không còn ai đứng ra làm những nghi thức ấy. Tin đến bằng con đường vòng qua những người quen còn ở lại, qua người này nhắn người kia, qua thư từ đi mất nhiều tuần lễ.

Người vợ đọc tin ấy trong một căn nhà mượn ở một đất nước bà mới đặt chân đến vài tháng. Không có tang lễ nào được tổ chức, không có ai đến chia buồn vì gần như không ai chung quanh biết bà là ai. Không có một mảnh khăn tang nào được chít lên đầu 4 đứa trẻ. Ở chốn ấy, người ta không có bàn thờ, không có nhang, không có cả một tấm ảnh khổ lớn để đặt lên. Tất cả những gì bà có là mấy tấm ảnh nhỏ mang theo từ Sài Gòn, trong đó có tấm ảnh cưới mùa xuân năm 1964.

Bà lấy tấm ảnh ấy ra đặt lên chiếc bàn gỗ trong phòng và ngồi xuống trước nó. Người ta thường hình dung cảnh một người vợ gục xuống khi nghe tin chồng chết. Ở đây thì khác bà không được phép gục xuống vì có 4 đứa trẻ đang ở phòng bên. Đứa lớn nhất mới 10 tuổi, đứa út lên 6. Chúng chưa hiểu chuyện gì và chúng đang đói. Vì vậy bà làm cái việc mà bà sẽ còn làm suốt 30 năm sau đó. Bà đứng dậy và đi nấu cơm.

Trong căn nhà mượn buổi tối hôm ấy, bà gọi các con lại và nói với chúng bằng những chữ đơn giản nhất mà bà tìm được. Bà nói rằng bố sẽ không sang nữa.Bà nói rằng bố đã mất ở Việt Nam vào cuối tháng 4. Bọn trẻ ngồi im. Đứa út chưa hiểu hết ý nghĩa của câu ấy nên hỏi lại. 3 đứa lớn thì hiểu và trong phòng có tiếng khóc của trẻ con.

Người mẹ ngồi giữa 4 đứa con ôm lấy chúng và không khóc. Về sau khi kể lại quãng ngày này, bà không dùng những chữ bi thảm mà nói về nó rất gọn gần như bình thản theo cách của những người đã đi qua chuyện lớn và không còn muốn kể dài. Năm đó bà chưa tròn 30 tuổi, bà đã làm vợ được 11 năm, trong đó phần lớn thời gian sống xa chồng.Từ buổi tối ấy trở đi, bà là góa phụ và bà sẽ ở vậy cho đến cuối đời. Điều làm nên câu chuyện này không nằm ở việc bà mất chồng, vì trong chiến tranh có hàng vạn người vợ mất chồng, mà nằm ở việc bà đã làm gì với 30 năm còn lại.

Ngay trong những tuần đầu, bà hiểu ra một chuyện rất thực tế. Không có trợ cấp nào cho vợ của một sĩ quan thuộc một quân đội không còn tồn tại. Không có lương hưu, không có bảo hiểm, không có danh nghĩa nào để trông cậy. Bà có 4 đứa con đang tuổi ăn tuổi lớn, một vốn tiếng Pháp không dùng được và một vốn tiếng Anh vừa đủ để hiểu người ta hỏi gì. Vậy thì bà phải có một cái nghề và phải có thật nhanh. Một lớp dạy nghề mùa đông năm ấy, bà chọn nghề làm tóc, lý do rất giản dị. Nghề ấy học được trong vài tháng, không đòi hỏi bằng cấp cũ. Không đòi hỏi phải nói tiếng Anh thật giỏi. Nghề ấy có việc quanh năm vì tóc thì ai cũng phải cắt. Và quan trọng hơn cả cho phép người ta về nhà đúng giờ.

Ngày đầu tiên đến lớp người ta đưa cho bà một tờ giấy ghi tên. Bà viết 4 chữ Phan Thi Minh Yen không dấu, theo mẫu tự La Tinh. Người phụ trách lớp nhìn tờ giấy ngập ngừng rồi hỏi, “Bà muốn được gọi thế nào cho gọn?” Bà đáp rằng gọi bà là Yen cũng được. Kể từ giây phút đó ở đất nước này, bà chính thức chỉ còn là cô Yến, người học cắt tóc. Không ai trong lớp hỏi bà từng làm gì trước đây và bà cũng không kể.

Bà học cách cầm kéo, cách chia tóc, cách gội đầu cho khách nằm ngửa trên bồn. Bà học tên các loại thuốc uốn các loại thuốc nhuộm bằng một thứ tiếng Anh phải ghi lại vào sổ tay mỗi tối. Bàn tay từng cầm bút viết chính tả tiếng Pháp. Giờ tập làm quen với nước, với hóa chất, với mùi thuốc bám da dính vào da. Sau vài tháng, tay bà bắt đầu khô lại và nứt ở đầu ngón. Bà bôi thuốc quấn băng rồi hôm sau lại đi học tiếp. Song song với lớp học nghề, bà làm thêm một việc nữa mà không ai dục. Bà đi thi lấy bằng lái xe.

Ở xứ này không có xe, nghĩa là không có việc làm, không đưa được con đi khám bệnh, không mua nổi thức ăn cho cả tuần. Bà học luật giao thông bằng thứ tiếng Anh còn chắp vá tập lái trên những con đường rộng thênh thang mà bà chưa từng thấy ở Sài Gòn. Rồi bà đi thi và bà lấy được bằng.

Xem thêm:   Ký Sử 1975 - Chiếc rương gỗ mang từ Hải Phòng (kỳ 2)

Từ hôm ấy, người đàn bà nhỏ nhắn ngày nào ở Cầu Đất tự chở 4 đứa con đi khắp nơi. Chiếc xe đầu tiên của gia đình là một chiếc xe cũ mua lại máy kêu to và sơn đã bạc. Nó chở 5 mẹ con đi chợ vào cuối tuần, đưa các con đến trường, chở bà tới chỗ làm. Trong xe lúc nào cũng có một tấm bản đồ giấy gấp làm tư vì thời ấy chưa có gì chỉ đường cho người lạ. Mỗi lần phải tới một địa chỉ mới, bà dò trước trên bản đồ vào tối hôm trước không cho phép mình đi lạc. Bởi đi lạc nghĩa là đến chỗ làm muộn. Sự chính xác ấy dần trở thành tính cách của bà ở xứ người. Có một điều lặng lẽ diễn ra trong suốt quãng thời gian đó và mãi rất lâu sau người ta mới nhận ra.

Trong cộng đồng người Việt ở Mỹ, câu chuyện về 5 vị tướng tuẫn tiết ngày 30 tháng 04 được kể lại rất nhiều lần. Nó xuất hiện trong sách báo trong các buổi lễ tưởng niệm hàng năm. Tên họ được nhắc đến với tất cả sự kính trọng. Nhưng suốt bao nhiêu năm ấy, hầu như không ai biết vợ con của 1 trong 5 người đó đang sống ở đâu. Họ ở ngay tại Virginia, cách những nơi tổ chức lễ tưởng niệm không xa. Người mẹ đi làm mỗi ngày ở một tiệm tóc, 4 đứa con đi học vào trường công gần nhà và không một ai trong số đó lên tiếng nhận mình là người trong câu chuyện mà cả cộng đồng đang kể.

Mỗi sáng thẻ chấm công lại được bấm một lần nữa

Khi đã có bằng hành nghề trong tay, bà xin vào làm ở một tiệm tóc. Không phải tiệm của người Việt mà là một tiệm bình thường trong vùng. Khách phần lớn là người bản xứ. Bà đến sớm đứng vào chỗ được phân và bấm tấm thẻ chấm công treo cạnh cửa. Tấm thẻ ấy ghi lại từng giờ bà có mặt và tiền lương được tính đúng theo những con số in trên đó.

Suốt 30 năm sau buổi sáng nào của bà cũng bắt đầu bằng động tác ấy. Trong đời làm tóc của người Việt ở Mỹ có một con đường quen thuộc mà rất nhiều người đi. Học nghề làm thợ vài năm, dành dụm rồi mở tiệm riêng. Mở tiệm nghĩa là thu nhập cao hơn, là làm chủ chính mình, là có thứ để lại cho con. Đó là giấc mơ rất chính đáng của cả một thế hệ vừa mất hết và phải làm lại từ đầu.

Bà Phan Thị Minh Yến không đi con đường ấy. Trước sau bà chỉ làm công. Nhiều người khuyên, nhiều người tiếc cho bà vì tay nghề bà đã vững và khách quen thì nhiều. Bà vẫn từ chối và lý do bà đưa ra rất ngắn gọn. Mở tiệm thì phải bôn ba, mà bôn ba thì sẽ không còn đủ thì giờ trông nom lũ nhỏ. Với bà, đó không phải là một sự lựa chọn khó khăn. Về sau khi được hỏi bà làm nghề gì, bà trả lời rằng nghề chính của bà là làm mẹ. Nghe qua câu ấy, giống một lời nói khiêm tốn. Nhìn kỹ vào 30 năm sau đó, nó là một chiến lược sống được tính toán rất kỹ. Bà biết mình chỉ có một mình. Bà biết thời gian và sức lực của một người là có hạn, cho nên bà chọn hy sinh phần thu nhập và địa vị. Đổi lại bà giữ được thứ mà bà cho là quan trọng hơn là những buổi tối có mặt ở nhà. Cái giá của lựa chọn đó thì bà phải trả bằng chính đôi tay và đôi chân của mình.

Trong tiệm những ngày đầu tiên không phải mọi thứ đều êm ả. Ban đầu bà thấy tủi thân và bà thừa nhận điều đó rất thẳng thắn. Từ chỗ là phu nhân của một vị tướng, nay bà đứng gội đầu cho người khác nghe người ta sai bảo và nhiều khi phải nhịn. Có những hôm khách khó tính, chê bai đổi ý giữa chừng. Có những hôm bà bị hối thúc, bị nói nặng lời mà vốn tiếng Anh thì chưa đủ để giải thích cho ra lẽ. Bà đứng đó gật đầu và làm lại từ đầu mái tóc dang dở.

Rồi bà nhận ra một điều và điều ấy giúp bà đi hết chặng đường dài phía sau. Ở đây không ai biết hoàn cảnh của bà, không ai biết chồng bà từng là ai, cũng không ai biết bà từng sống thế nào. Vậy thì việc gì phải mang cái quá khứ ấy ra để so đo với hiện tại?

Bà tự nhủ rằng việc của mình thì mình làm và cứ thế mà làm. Sự nhẫn nhịn ấy ban đầu là bắt buộc sau thành thói quen rồi cuối cùng thành sức mạnh. Công việc trong tiệm cứ thế lặp lại năm này qua năm khác gần như không đổi. Gội cắt sấy uốn nhuộm rồi quét tóc rụng trên sàn.

Mùa hè khách đông hơn, mùa đông thưa hơn. Trước ngày lễ lớn thì ai cũng muốn làm đầu và bà đứng liên tục từ sáng đến tối.Tay bà nhanh dần, con mắt nghề của bà tinh dần và khách quen chỉ chờ đến lượt bà chứ không nhận người khác.

Có những người khách gắn bó với bà suốt 20 năm liền. Họ đến lần đầu khi tóc còn đen rồi bạc dần theo từng mùa. Họ kể cho bà nghe chuyện con cái ra riêng, chuyện chồng về hưu, chuyện nhà cửa, chuyện bệnh tật. Bà nghe gật đầu hỏi thăm đúng chỗ và giữ lại trong đầu những chi tiết nhỏ để lần sau còn hỏi tiếp. Đổi lại, họ hầu như không biết gì về đời riêng của bà. Cả tiệm chỉ biết mỗi năm bà xin nghỉ đúng 1 ngày vào ngày cuối tháng 4 vì nhà bà có giỗ.

(còn tiếp 1 kỳ)