Phải đến lần thứ hai trở lại Kon Tum tôi mới thực sự hiểu được đôi chút về thành phố cuối cùng của Tây Nguyên (theo đường 14), có đường biên giới với 2 quốc gia trong khu vực là Lào và Campuchia, nằm trên vùng tam giác Đông Dương. Nhiều người sinh ra và lớn lên ở Ban Mê Thuột còn thú nhận, trong đời họ chưa bao giờ đến Kon Tum, chỉ tới Pleiku rồi quay về. Có người còn bảo, Kon Tum là nơi ghé đến chút xíu rồi lui về Pleiku nghỉ lại bởi Pleiku vui hơn.

Đường lên tây Nguyên
Ðúng là Kon Tum không nhộn nhịp như Pleiku hay Ban Mê Thuột, vì Kon Tum (ngày xưa) là “ngõ cụt”, đến đó là hết. Thế nhưng, giờ đây, Kon Tum có thể là nơi “quá cảnh” cho bạn nghỉ lại, khám phá và đi tiếp (có đường xuống Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên…)

Một nhà thờ gỗ đơn sơ
Phố có nhiều nhà thờ đẹp
Sáng sớm tôi đi bộ trên những con đường thưa thớt xe cộ, nhìn dải mây trắng là đà ngang đỉnh núi, bên dưới là dòng sông Đăk Bla, cảm nhận đầu tiên với một thành phố nhỏ, dân cư không đông như Pleiku hay Ban Mê Thuột đặc biệt, Kon Tum có rất nhiều nhà thờ (người theo đạo Công giáo chiếm đa số). Trên con đường chính Nguyễn Huệ, có hai nhà thờ lớn, rất đẹp là Tân Hương và Nhà Thờ Gỗ còn gọi là Nhà thờ Chính Tòa.
Trên một khuôn viên khá rộng bên cạnh có Nhà sinh hoạt giáo xứ, nhà thờ Tân Hương được hình thành từ năm 1851, phía trước, bên kia đường có hang đá Đức Mẹ. Kiến trúc nhà thờ đơn giản nhưng đẹp với mặt tiền có hai hình Thánh Phao Lô ngã ngựa và Tổng Lãnh Thiên Thần Micae chiến thắng quỷ Satan.
Nhà thờ Tân Hương có đầu tiên ở Kon Tum, lấy tên làng Tân Hương là làng người Kinh đầu tiên được thành lập ở đây vào năm 1826, nằm trải dọc theo dòng sông Đăk Bla (Kon Tum là thành phố duy nhất ở Tây Nguyên có sông chảy qua). Theo tiếng dân tộc Bahnar, Kon là làng, Tum là hồ, làng ở ven hồ. Để không thấy ngạc nhiên khi người dân địa phương gắn từ “làng” vào các địa danh (trong thành phố) như Tân Hương, Phương Nghĩa, Phương Quý, Trung Lương…
Trong Hồi ký Làng Hồ (xuất bản tại Paris năm 1926, bản dịch in tại Sài Gòn 1972), linh mục Dourisboure thuộc đoàn Thừa Sai đi truyền đạo đã viết: “Khi các Cha đến chỗ cách Kơ Lăng một vài ngày đường về hướng Tây, và nếu các Cha gặp được con sông mà người ta đã cho tôi biết thì các Cha sẽ tìm thấy vùng đồng bằng ở hai bên bờ sông…”

Khung cảnh thật bình yên
Nhà thờ Gỗ là một nhà thờ đặc biệt dành riêng cho người dân tộc. Nơi đây, cử hành thánh lễ được chia tách rõ ràng theo các khung giờ cố định để mọi giáo dân tham dự bằng tiếng Bahnar và tiếng Việt.
Nhà thờ Gỗ được xây dựng vào năm 1913, có kiến trúc Roman kết hợp với kiến trúc nhà sàn người Bahnar, sự kết hợp giữa phong cách châu Âu và nét văn hóa của Tây Nguyên tạo nên vẻ độc đáo mà gần như bất cứ ai đến Kon Tum đều không thể bỏ qua. Phía sau nhà thờ có Cô nhi viện Vinh Sơn I. Tôi đã đến Nhà thờ Gỗ nhiều lần. Vào sáng sớm tham dự Thánh Lễ dành cho người dân tộc; và buổi chiều, trong không gian rất thanh bình, nhìn các em (cô nhi) đi học về, thay bộ quần áo bắt đầu công việc chăm sóc vườn rau. Tôi ngồi lại trên ghế đá ngắm những khóm hoa hồng, thoảng mùi hương hoa cà phê vào mùa để thấy lòng rất bình an.
Băng qua đường, đối diện Nhà thờ Gỗ là Tu viện Hội Dòng Ảnh Phép lạ. Từ Nhà thờ Gỗ, đi bộ khoảng 300m là đến Tòa Giám Mục (TGM) Kon Tum nằm trên đường Trần Hưng Đạo, được xây dựng từ năm 1935. Tôi đến đây vào mùa hoa sứ rụng lá để ngắm TGM mang vẻ đẹp cổ kính châu Âu và mùa hàng sứ xanh lá cảm nhận một vẻ đẹp khác nữa.
Trong TGM có phòng truyền thống trưng bày chi tiết về lịch sử truyền giáo tại Kon Tum. Có thể coi đây là một bảo tàng nhỏ về vật dụng sinh hoạt, nông cụ, vật thể văn hóa các dân tộc thiểu số đang sinh sống trên địa bàn.

Tòa Giám mục mùa sứ rụng lá
Cạnh Toà Giám mục có nhà thờ Phương Nghĩa, kiến trúc đơn giản hơn, nhưng ấm áp. Buổi chiều, các em học sinh đi học về, ghé lại, múc gàu nước giếng rửa mặt rồi… uống, có em ngồi lại trầm ngâm trên ghế đá. Một khung cảnh thật thanh bình.
Cách trung tâm thành phố khoảng 8km, qua cầu treo Kon Klor, có một nhà thờ gỗ đơn sơ mà đặc biệt. Bên trong chỉ có ban thờ và hoàn toàn không có bàn ghế. Giáo dân đi lễ ngồi bệt dưới đất. Buổi chiều, sau một hồi trống, bà con lục tục kéo đến nhà thờ. Chúng tôi dạo quanh làng, ngắm nhìn ngôi nhà rông Bahnar với mái tranh cao vút, các em bé nô đùa. Thật khó diễn tả được cảm xúc rằng, đã có một lần đặt chân đến nơi đây.
Một điểm đặc biệt của Kon Tum là nhà rông. Một người bạn của chúng tôi là dân sở tại cho biết, trong vùng người Bahnar và Xê-đăng, nếu khách lỡ đi lạc trong rừng, chịu khó dõi mắt ngóng tìm, khi nào bất ngờ nhìn thấy nổi bật lên trên tán rừng già mờ mịt một nóc nhà rông, thì biết nơi đó có làng và chắc chắn sẽ gặp được những con người thân thiện.
Trong các làng, giờ đây không còn nhà sàn mà thay vào là nhà cấp bốn, mái tôn hay ngói. Bạn tôi bảo, xây dựng một nhà sàn tốn nhiều tiền hơn nhà cấp bốn.

Các em cô nhi đi học về
Trung tâm hành hương Đức Mẹ Măng Đen
Măng Đen cách Kon Tum khoảng 60 km, trên Quốc lộ 24 xuôi đến Quảng Ngãi. Tên gọi Măng Đen xuất phát từ tên T’măng Deeng của người dân tộc Mơ Nâm, có nghĩa là vùng đất bằng phẳng và rộng lớn. Ở độ cao 1100m so với mặt nước biển và nằm giữa đèo Măng Đen và đèo Violăk, xung quanh là rừng, khí hậu ở đây quanh năm mát mẻ và đã có nhiều người ví Măng Đen như một Đà Lạt thứ hai của Tây Nguyên.
Măng Đen là dải phân cách giữa Trường Sơn Đông và Trường Sơn Tây, điều này thấy rất rõ khi chúng tôi dừng lại chụp hình tại một điểm khá độc đáo: hút sâu dưới chân đèo, con suối Đăk Long bẻ ngoặt hai nhánh hình chữ V, một đổ về Trường Sơn Đông và một về Trường Sơn Tây. Trên dòng chảy mạn Trường Sơn Tây, suối Đăk Long hợp với các suối khác thành sông Đăk Pơ-ne, rồi sông Đăk Pơ-ne hợp với sông Đăk Sơ-nghé ở Kon Rẫy tạo thành đầu nguồn sông Đăk Bla chảy băng ngang qua lòng thành phố Kon Tum.
Bạn tôi cho biết, Măng Đen trước đây vốn là một nông trường thông. Bên trong là rừng nguyên sinh. Đi sâu vào bên trong là các khu resort. Chúng tôi chạy xe lòng vòng qua các khu nghỉ mát, những con đường láng nhựa hoặc bê tông ngoằn ngoèo như trăn lớn, những ngôi biệt thự thấp thoáng dưới bóng rừng cây… Đường, cầu, hồ, thác… Những hàng cây mimosa lá trắng xanh ánh lên trong nắng, vài con ngựa quẩn quanh…

Trong một làng người dân tộc
Đồi Đức Mẹ là nơi mà người hành hương đến đọc kinh, cầu nguyện, nơi đó có tượng Đức Mẹ cụt tay. Lần đầu tiên tôi đến khoảng hơn 10 năm trước, đồi còn nguyên trạng hoang sơ, xanh mát lạ thường. Hôm đó vào thứ Hai nên thưa người đến viếng. Bạn tôi bảo thứ Bảy, Chủ Nhật, những ngày lễ trọng thì xe và người cứ chật như nêm. Dễ hình dung được điều này khi thấy những hàng ghế đá dày đặc trên đồi với những lời tạ ơn Đức Mẹ Măng Đen.
Bạn tôi nói, mỗi người trong đời nên ít nhất một lần đến với Măng Đen, đi vào mùa hè hay mùa đông đều có những thú vị khác biệt. Mùa hè được ngắm mây trời và mùa đông thì ngắm sương mù và đặc biệt nhiệt độ nơi đây hiếm khi vượt quá 200C..
Và tôi đã có 5 lần đến với Đức Mẹ Măng Đen. Đồi Đức Mẹ bây giờ có nhiều thay đổi, khang trang, rộng rãi, ghế đá nhiều hơn. Măng Đen cũng thay đổi, khách du lịch/hành hương đông hơn, đường rộng hơn, trông có vẻ quy củ nhưng sao tôi vẫn nhớ hoài lần đầu tiên đến đây, hoang sơ và nhẹ nhàng.

Tác giả với Đức Mẹ Măng Đen năm 2014
ĐTTT
* Những địa danh trong bài sử dụng khi chưa đổi tên tỉnh, thành phố.








