“Sau khi đã theo Phạm Thiên Thư ‘đưa em tìm động hoa vàng’, tôi lại cùng anh ‘gọi em là đóa hoa sầu’ … Nhạc phẩm ‘Gọi em là đóa hoa sầu’ trích từ những câu thơ trong ‘Đoạn trường vô thanh’. Theo thi sĩ Phạm Thiên Thư thì dù sao đi nữa, cuộc đời này rất đáng sống trong cái mênh mông bao la của phù vân hư ảo. Hành âm nghe rất âu yếm và nhẹ nhàng, hợp với không khí nồng nàn và an ủi của bài ca. Dù ta thấy được sự phù vân của cuộc đời nhưng ta vẫn thấy được cái nồng nàn của tình yêu. Ẩn Lan ơi, cuộc đời thật là buồn nhưng đó là nỗi buồn thơm lâu. Vì thế mà anh gọi em là đóa hoa sầu”

(trích “Vang vọng một thời” của nhạc sĩ Phạm Duy)

Thi sĩ Phạm Thiên Thư trước quán Hoa Vàng (ảnh từ Facebook của Phan Khắc Huy)

  1. Nhớ thi sĩ Phạm Thiên Thư

Phạm Thiên Thư còn có bút hiệu là Thái Phương Thư, tên thật là Phạm Kim Long (01.01.1940-07.05.2026) sinh quán ở Hải-Phòng và lớn lên ở Hải-Dương trong gia đình hành nghề Đông y nhưng yêu thích thơ văn. Sau ngày hiệp định Genève được ký kết, ông theo cha mẹ di cư vào miền Nam và sống ở Sài-Gòn cho đến khi qua đời.

Hết bậc trung học, Phạm Thiên Thư theo môn Phật học ở trường Vạn Hạnh và chọn nhà chùa, cửa Phật làm chốn nương chân. Ông gửi hồn trong câu kinh, tiếng kệ nên sở hữu kiến thức uyên bác về đạo Phật và sáng tác nhiều bài thơ phảng phất triết lý Phật giáo. Rồi ông hoàn tục và sáng lập môn dưỡng sinh điện công Phathata (viết tắt chữ Pháp – Thân – Tâm).

Xem thêm:   Paris dưới những nhịp cầu

Tuy xuất hiện khá muộn màng nhưng Phạm Thiên Thư đã đóng góp vào nền văn học ở miền Nam Việt-Nam khá nhiều tác phẩm, nhất là những thi phẩm được xem là “thơ đạo” và báo giới gọi ông là “người thi hóa kinh Phật”. Cõi thơ Phạm Thiên Thư cứ vấn vương “nửa đời, nửa đạo” và bất ngờ dẫn dắt độc giả đến những khung trời mới lạ về tôn giáo, phong phú trong tình yêu lẫn thiên nhiên.

Để kể tiếp câu chuyện gia đình của nàng Thúy Kiều trong “Đoạn trường tân thanh” của đại thi hào Nguyễn Du, thi sĩ Phạm Thiên Thư sáng tác bản trường thi “Đoạn trường vô thanh” gồm 3290 câu thơ vào năm 1969. “Đoạn trường vô thanh” được xem là tác phẩm “Hậu Truyện Kiều” thành công nhất và được trao giải nhất Văn học nghệ thuật của chính phủ Việt-Nam Cộng Hòa năm 1973.

Nhạc sĩ Phạm Duy đã chọn ra một đoạn gồm 34 câu thơ (từ câu 1717 đến 1750) và phổ thành nhạc phẩm “Gọi em là đóa hoa sầu” để nhắc lại một câu chuyện tình của đôi lứa thương nhau, ngỡ đã biền biệt trời xa nhưng khó ai ngờ họ được tao phùng trong niềm hạnh phúc bất hạnh.

Ngày đó, Kim Trọng và Vương Quan học chung một thầy là Hồ Ông. Riêng Vương Quan còn vấn vương chút ái tình với nàng Ẩn Lan, con gái của người thầy cũ. Do thầy về núi ẩn cư từ nhiều năm trước và gia đình hai họ Vương, Kim cũng lưu lạc xa quê nên họ biệt tin nhau từ dạo ấy. Thời gian thấm thoát trôi nhanh, trong một dịp tình cờ biết được tin tức người thầy cũ, Vương Quan vội vã tìm đến thăm và nhất là để có dịp hội ngộ với tình xưa. Sau nhiều năm cách mặt, Ẩn Lan “vẫn như là ngày xưa”, vẫn xinh đẹp như thuở nào và âm thầm chờ đợi cố nhân. Nhưng tiếc thay cho duyên bèo nước rã rời, phận hồng nhan bạc số vì “suối chảy có chờ đâu hoa”, chàng Vương nay đã ràng buộc chuyện thê nhi. Vậy là sau bao năm chờ đợi, mối tình thơ của nàng Lan đã trở thành tuyệt vọng và kết thúc từ sau lần tao ngộ đó.

  1. Gọi em là đóa hoa sầu
Xem thêm:   Vợt muỗi điện

Ngày trước, khi “mây còn quyện núi, nước chưa qua cầu”, chàng học trò nghèo đem lòng yêu thương cô gái hái dâu. Chiều từng chiều, tiếng hát nàng vang vọng đồi nương khiến chàng thư sinh ngẩn ngơ, ngơ ngẩn. Gửi cho nàng những vần thơ như ngỏ ý làm quen và ngập ngừng trao nhau lời thệ ước ban sơ ..

“Ngày xưa áo nhuộm hoàng hôn

Dáng ai cắp rổ lên cồn hái dâu

Tiếng nàng hát vọng đôi câu

Dừng tay viết mướn lòng sầu vẩn vơ

Lều tranh còn ủ chăn mơ

Mối tình là một bài thơ vô đề”

Mái tóc thề phủ trên bờ vai người con gái nhỏ nhắn là dòng suối mát trong chảy qua tâm hồn đang cô đơn trong chiếc lều tranh xiêu vẹo. Nàng là suối nhạc, là nguồn thơ để hát ru tình yêu cho thêm ngọt giấc nồng ..

“Ẩn Lan ơi, mái tóc thề

Gió xuân nay có vỗ về suối hương

Đêm nao ngồi học bên tường

Nến leo lét lụi, chữ vương vất chìm

Ngoài song thoảng tiếng hài im

Như trăng buông hạt tơ chìm kiêu sa”

Biết bao kỷ niệm tình yêu trôi qua theo từng sáng, từng chiều. Chiều dần tàn và ngày cũng sắp hết, những tia nắng quái còn vấn vương trên kẽ lá, nhành cây. Nét dỗi hờn khiến cho dung nhan kiều diễm đó điểm thêm nỗi buồn sâu kín, nỗi buồn thơm lâu. Gió xuân mơn man đóa hoa đồng nội, đóa lan đượm nét u sầu cũng là hình ảnh khó phai mờ khi tình yêu chấp cánh ra đi …

Xem thêm:   Phụ nữ gánh nửa bầu trời

“Ẩn Lan ơi em dỗi em hờn

Ẩn Lan ơi em dỗi em hờn

Ẩn Lan ơi như những cơn buồn

Nỗi buồn thơm lâu

Em ơi gọi em là đoá hoa sầu”

Bài thơ lẫn bài hát đều mang một màu hư ảo, phù vân như nét thơ của thi sĩ Phạm Thiên Thư.

Những câu thơ khắc họa tình yêu đôi lứa thơ ngây và đơn sơ như “áo nhuộm hoàng hôn” của nàng cùng nơi chàng ở là “lều tranh còn ủ chăn mơ”. Mối tình thật đẹp và nên thơ như con thuyền lướt nhẹ trên sông trăng, bềnh bồng như sương lam, khói tỏa. Không nệ hà quá khứ mà cũng chẳng màng đến tương lai, họ đến với nhau giữa cuộc đời này và trao nhau bao lời thương, tiếng nhớ. Không gian như lắng đọng, thời gian như ngừng trôi nguyện làm chứng nhân cho niềm luyến ái của hai mái đầu xanh. Những vần thơ “điểm dấu son màu hồng” là phút giây êm đềm, hạnh phúc của chàng Vương Quan và nàng Ẩn Lan được nhạc sĩ Phạm Duy khéo léo đưa vào khung nhạc “Gọi em là đóa hoa sầu”. Vì yêu thơ, yêu nhạc nên tao nhân, mặc khách đã nâng niu, gìn giữ cho đến bây giờ dẫu cuộc sống đã bộn bề thay đổi. Nghe lại một nhạc khúc cũ, chợt nghe lòng lâng lâng khó tả dù đó là hạnh phúc mong manh, dễ vỡ và cuối cùng cũng đi vào ngõ tối.

TV (10.05.2026)