Tháng Tư Đen hàng năm là thời điểm nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam tổ chức nhiều hoạt động công chúng để “mừng chiến thắng.” Cách đây 20 năm, những hoạt động này chỉ bó gọn cụ thể ở phạm vi quốc nội và các đại sứ quán, lãnh sự quán CSVN ở nước ngoài, gọi là “phát động phong trào thi đua yêu nước.”
Thời đại mạng xã hội toàn cầu thì việc “mừng chiến thắng” không giới hạn ở những địa điểm mang tính địa lý nữa, mà “phong trào” đã “tấn công” lên mạng và ra thế giới, bằng các “chiến dịch” online như là “treo cờ” (đổi hình nền/background website, trương mục mạng xã hội bằng hình cờ đỏ cộng sản), thay hình đại diện cá nhân bằng hình cờ đỏ cộng sản, “lùa bò” (xua đoàn quân bò đỏ và dư luận viên vào trương mục của người Việt tỵ nạn cộng sản hải ngoại chửi bới thô tục, nhạo báng, và “vỗ ngực ngạo nghễ”. Những câu quen thuộc được “lập trình” bấm nút là nhả ra “ba que,” “ba sọc,” “bọn thất bại,” “đu càng” thì vào thời điểm “chiến dịch” được “đính kèm” thêm “không có quê để về”, “mồ mả ông bà chúng mày không thắp hương” v.v…
Không thể nào liệt kê được hết mớ “vũ khí mõm” của bò đỏ và dư luận viên, ở đây tôi chỉ giới hạn phân tích về khái niệm quê hương mà chúng dùng để kích động, châm chọc, và nhiều Facebookers hải ngoại bỗng nhiên bị xìu trước các luận điệu tào lao xịt bụp phi logic của chúng, giống như kẻ bại trận thứ thiệt.
Việt Nam Tự Điển (Lê Văn Đức – Lê Ngọc Trụ, Khai Trí, 1970) giải thích quê hương là danh từ chỉ “quê quán, nơi có nhà cửa ông bà cha mẹ mình”. Từ điển tiếng Việt mới giải nghĩa danh từ quê hương rộng hơn, nghĩa thứ nhứt “là nơi có sự gắn bó tự nhiên về tình cảm”. Thí dụ, câu “Đứng bên ni đồng, ngó bên tê đồng, mênh mông bát ngát/ Đứng bên tê đồng, ngó bên ni đồng, cũng bát ngát mênh mông”. Rõ ràng nó chẳng có gì gây ấn tượng mạnh, mà chỉ là cái cảm giác rộng mênh mông rất đỗi tầm thường, nhưng người thốt lên hai câu này lại có cảm giác thích thú mỗi khi “đứng bên ni” và “đứng bên tê”, thiếu vắng thì nhớ.
Cái cảm giác của người này chưa hẳn là cảm giác của người kia dù hai người đứng cùng một thời điểm và cùng một chỗ. Nếu một người nào đó thuở nhỏ được cha mẹ cưng chiều, ăn ngon mặc đẹp, bạn bè vị nể, thầy cô quý trọng thì quê hương thuở còn thơ đối với người đó rất là ngọt ngào, đáng nhớ. Nhưng cũng ở cái làng ấy, cái xóm ấy, mà đứa trẻ/ hoặc người nào đó đã sống một cuộc đời khốn khổ, nhọc nhằn, bị áp bức, bị oan khuất, đắng cay tủi nhục, thì với đứa trẻ/ hoặc người ấy hai chữ “quê hương” không chất chứa đầy thù hằn, oán hận đã là may lắm rồi, thậm chí nhắc tới làng xóm cũ là những ký ức hãi hùng, thì có đâu mà yêu với thương, nhung với nhớ, họ chỉ muốn không bao giờ nhớ tới mà thôi.
Nghĩa thứ hai của quê hương càng trừu tượng hơn, là “nơi đầu tiên sản sinh ra cái gì để từ đó phổ biến rộng ra những nơi khác”, thì nó chẳng là gì với người nghe. Thí dụ, “nước Anh là quê hương của môn túc cầu.”
Nói cách khác, quê hương là ký ức về một khoảng thời gian thanh bình, hạnh phúc của người cụ thể nào đó, nếu đó chỉ là những kỷ niệm buồn thì nên quên cho nhẹ lòng.
Bò đỏ vào trang Facebook tôi comment rằng “Mày không có cơ hội về thắp hương cho mồ mả tổ tiên”. Thật buồn cười, tôi hỏi ngược lại “Thế mày thắp hương xong rồi ông bà tổ tiên nhà mày có nhận ra mày không?”
Thực tế, ngay cả ông bà nội, ông ngoại còn không biết tôi là đứa nào, tổ tiên làm sao mà biết. Gia đình tôi có truyền thống thờ Phật. Theo thuyết luân hồi của nhà Phật, ở hiền gặp lành, tổ tiên ông bà tôi hẳn đã đi đầu thai từ lâu rồi, làm gì còn ở cái gò đất giữa đồng đó mà cố đốt nhang rồi chổng khu lạy lấy lạy để. Cụ Nguyễn Du viết, “Thác là thể phách, còn là tinh anh” mà.
Vua hài Charlie Chaplin sau khi qua đời bị hai kẻ trộm đào mộ đánh cắp quan tài của ông. Bọn trộm gọi điện thoại cho vợ Chaplin đòi tiền chuộc là một triệu Franc Thụy Sĩ (tương đương 2 triệu Mỹ kim.) Bà vợ kiên quyết không đưa tiền chuộc, trả lời rằng “đến Chaplin quá cố còn phải thấy những yêu cầu này là ngớ ngẩn”, “Chồng tôi ở trong trái tim tôi, không phải ở ngoài nghĩa địa”. 11 tuần sau (kể từ ngày quan tài bị đào) bọn trộm đã bị bắt.
Đời Đường, Địch Nhân Kiệt được bổ nhiệm chức Pháp Tào Tham Quân ở thành Tỉnh Châu, cha mẹ ông thì ở Hà Dương, cách xa Tỉnh Châu mấy ngày đường. Một hôm Địch công lên núi Thái Hàng nhìn thấy một chòm mây trắng bay một mình (bạch vân cô phi) bèn bảo kẻ tả hữu rằng “Nhà cha mẹ ta ở dưới đám mây đó.” Rồi đứng ngậm ngùi giờ lâu, chờ đám mây bay khuất mới đi về. Dưới đám mây kia là “quê hương” Địch công, vì có nhà cha mẹ già của ông ở đó, làm cho ông bùi ngùi, nhung nhớ không yên. Cụ Nguyễn Du lấy ý này, cho nàng Kiều cảm thán nhớ cha mẹ rằng: “Lòng còn gởi đám mây Hàng/ Họa vần xin hãy chịu chàng hôm nay.”
Cổ thi có câu “Thiên thương hoàng vân ảnh/ Du tử hà thời quy?” Nghĩa là trên trời có bóng mây vàng, kẻ xa nhà bao giờ trở về?
Truyện Nhị Thập Tứ Hiếu có ông Lão Lai đã già mà cha mẹ hãy còn sống. Lão Lai ngày ngày ra sân cầm chổi quét, nhảy múa như trẻ con cho cha mẹ vui. Miêu tả cảnh Thúy Kiều nhớ cha mẹ, cụ Nguyễn không nói thẳng mà chỉ mô tả cái sân nhà, “Sân Lai cách mấy nắng mưa/ Có khi gốc tử đã vừa người ôm” thì người đọc hiểu là nàng đang nhớ ai và thời gian xa cách đã dài bao lâu rồi.
Nói gần nói xa chẳng qua nói thật, người xưa nói “nhớ nhà” thật ra là nhớ người sống trong căn nhà ấy, nếu người mất rồi liệu có còn “nhớ nhà” hay không? Thú thật là tôi chưa từng đọc thấy bài cổ thi nào miêu tả tình trạng “nhớ nhà” mà người sống trong nhà ấy đã không còn ai. Nhà chẳng qua là vật cụ thể để nói về cái trừu tượng, tức là tình cảm với người đã từng sống và còn đang sống ở đó mà thôi. Không có con người cụ thể thì quê hương là hai tiếng nhạt nhòa.
Người Việt tỵ nạn thế hệ thứ nhứt, thứ hai vẫn còn nặng lòng với quê hương Việt Nam vì họ còn gắn bó những ký ức tuổi thơ, để rồi cứ đau đáu cho những người đồng hương ở lại với chế độ cộng sản, thứ tình cảm mà người hải ngoại không có nghĩa vụ phải gánh vác, nhưng họ lại đa đoan, làm cho bò đỏ tưởng rằng không có “quê hương” thì người tỵ nạn không sống nổi.
Cháu của bạn tôi, thế hệ thứ ba của người Việt tỵ nạn cộng sản ở Mỹ, tiếng Mỹ là tiếng mẹ đẻ, nghe người nhà nói về Việt Nam cũng thờ ơ như nghe nói về Nhựt Bổn hay Phi Luật Tân. Với lớp trẻ này, nơi đâu có những tình cảm gắn bó thì nơi đó chính là quê hương (homeland).
Ông bạn tôi ở tiểu bang Pennsylvania, sau chuyến “hồ hởi” về miền Trung thăm quê để gặp lại họ hàng, bạn bè cũ, khi trở về Mỹ đã nói rằng, “Tôi rất thất vọng, tất cả đều thay đổi, xa lạ, tôi không tìm thấy cảnh cũ, không tìm thấy người cũ, không tìm thấy tình cảm cũ. Tôi bây giờ không thuộc về nơi ấy. Quê hương của tôi chính là nhà tôi bây giờ, là nơi tôi đang sống, là nước Mỹ này. Tôi sẽ không đi tìm kiếm ở đâu xa nữa.”
TPT









