“…Chỉ là những câu chuyện vụn vặt được chắp nối qua những mảnh đời dân quê miệt kinh rạch hầu san sẻ cùng bạn trẻ, những người chưa hoặc không có dịp sống gần gũi với dân ruộng về các miền kinh rạch ấy như một nét đặc thù của văn minh Việt bên cạnh một nếp “văn minh miệt vườn” khá sung túc, trù phú…” (Hai Trầu Lương Thư Trung).
Luôn tự nhận mình là một “người nhà quê”, nhưng ai cũng hiểu là cách nói khiêm cung của một học giả, kiến thức quảng bác, như bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc trìu mến nhận định “Nó là văn chương miệt vườn. Sau này muốn biết về miền Nam mưa nắng hai mùa ra sao thì phải đọc Sơn Nam và Hai Trầu thôi.”.
Mời bạn cùng chúng tôi dạo chơi cùng mưa nắng miền Nam…

(tiếp theo)
Chờ phôn con
Kinh Xáng Bốn Tổng ngày… tháng 5 năm 2000.
Hai cháu Long Phụng,
Cậu Hai có đôi lời thăm nom hai cháu cùng sắp nhỏ mạnh giỏi. Lóng rày cậu cũng rề rề, ho hen hoài, nên ít thơ từ gì cho hai cháu. Lại nữa, lúa độ này sụt giá quá mạng, chỉ hai mươi mấy ngàn đồng một giạ. Mỗi cái thơ nặng chừng 6 gờ-ram, tiền tem, tiền cò mỗi lần gởi thơ qua Mỹ hay Gia-Nã-Đại tính ra đâu khoảng 12,400 đồng, cũng gần bằng một thùng lúa rồi. Vì vậy mà cậu cứ ngán, nên để lần hồi hoài, riết rồi ngày lại, ngày qua, đâm ra chậm trễ và con cháu thì cứ trông ngóng mỏi mòn…
Hai cháu ơi, cậu Hai biết hai cháu lúc nào cũng trông thơ để biết tin tức của gia đình, của bà con cô bác, của chòm xóm láng giềng, nên cậu không viết thơ cho hai đứa bây là bụng dạ cậu lại xốn xang lắm, nhiều lúc đứng ngồi không yên. Nói vậy để hai cháu hiểu giùm cái bụng của cậu. Bây giờ cô bác không còn mấy người mà lại tứ tán mỗi người mỗi xứ mà lại già lụm cụm ráo trọi. Tỉ như chị Năm, má của hai cháu, một đằng mẹ ruột, một đằng mẹ chồng, đã tám mươi tư rồi chứ ít ỏi gì. Nên chị Năm ít đi đâu xa, cứ lẩn quẩn trong nhà. Ngoáy hết miếng trầu này, ăn chưa nát, lại têm miếng trầu khác thế vô. Lâu lâu mới ngồi xuồng cho mấy đứa nhỏ chở ra chợ thăm thằng Sáu Lân với đám cháu nội cho đổi gió, cho đỡ buồn. Nếu không đi ra ngoài như vậy, tối ngày chị Năm ngồi chờ phôn hai đứa bây gọi dìa đặng mà mừng. Có lần cậu dìa dưới thăm chỉ, chỉ nói mà tao ứa nước mắt: “Nghe tụi nhỏ nói vài tiếng là mình vui rồi cậu Hai. Con là ruột của mình cắt ra mà. Ruột mạnh là mình mạnh. Ruột đau là mình đau. Con cháu mình miễn nó mạnh giỏi là mình mừng, chứ đâu cần nó cho mình tiền muôn bạc vạn gì. Cậu nhớ hồi xưa hông? Nhà ông cố 3 căn 2 chái bắt vần, lúa lẫm lúa kho, bạc bao bạc thúng, mà rồi thời cuộc thay đổi cũng đâu còn gì. Bây giờ con cháu mình còn, tụi nhỏ biết chăm lo học hành là mình còn phước, còn đức. Tỉ như tui với cậu bây giờ làm gì ích lợi cho cháu con đâu. Suốt ngày rề rề. Nhưng không có mình là không được cậu Hai à! Mình là cái gốc, cái nền, còn cháu con là cái ngọn, cái chồi. Không có gốc làm sao có ngọn, có chồi, đâm nhánh ra bông, ra trái. Nên nghĩ vậy mà tui vui hoài hà cậu.”
Hai cháu à, lần trước chị Năm cũng có nhắc chuyện này, để cậu nhắc hai đứa bây nghe. Số là chỉ nghe ai nói lại là bên chỗ thằng Tư Giàu ở, mỗi năm dân Mỹ có ngày lễ “Mẹ”. Ngày đó, nghe đâu, cũng nhằm mùa tháng Tư âm lịch của mình, có nhiều ngày lễ như Vía Bà Chúa Xứ, lễ Kỳ Yên cúng đình Thần. Ở bên đó, con cái xúm lại, đứa mua món này, đứa sắm món kia cho má nó để như trả hiếu cho mẹ mình. Chị Năm mới cười, bảo với cậu như vầy: “Mình hơn Tây, hơn Mỹ ở chỗ là ngày nào của mình cũng là ngày lễ mẹ, lễ cha hết cậu Hai à! Tui nói vậy phải hông cậu? Vì cha mẹ mình ở chung với con cái, mà con cháu vốn có hiếu đạo, nên có món ngon vật lạ gì tụi nhỏ cũng để dành cho cha mẹ. Đâu đợi tới ngày, tới tháng hay tới lúc giàu có, tiền dư bạc để, mới lo cho cha mẹ. Rồi còn cái này nữa, con cái bà con xóm mình coi vậy mà nghe lời cha mẹ răm rắp, chứ có đứa nào dám vặn nài bẻ ống đâu cậu. Nghe lời cha mẹ là làm cha mẹ vui rồi.” Cậu ngẫm nghĩ, chị Năm nói vậy mà chí lý quá mạng.
Hai cháu Long Phụng,
Bây giờ dân ruộng miệt dưới Lấp Vò, Sa Đéc đổ lên Ba Thê, Núi Sập, xéo xéo trước kinh xáng Bốn Tổng của cậu về hướng Định Mỹ, Vọng Thê mua thêm ruộng làm ăn lớn. Nhưng khổ nỗi, vì ham làm giàu nên bà con cứ ráng mua thêm đất, thêm đai. Thành ra, hai cháu biết hông, vì cái bịnh “ráng” mà phải dang lưng ra vay nợ, vay nần, vay vàng, vay lúa để mua đất. Nhưng giàu đâu chưa thấy, trả nợ muốn xỉu. Lúa mùa nào làm ra trả nợ sạch bách mùa nấy, rồi mới rầu rĩ, lục đục trong nhà. Thiệt là “tham thì thâm” là vậy.
Làm gì cũng vậy hai cháu à, phải tùy sức mà liệu lượng. Quá sức là té đau. Con nhái muốn lớn bằng con bò đâu có dễ. Làm ăn ai cũng muốn làm ăn, nhưng phải vừa với sức mình mới được hai cháu. Cậu có gặp mấy người quen lên đây làm ruộng đậu ghe dưới bến chờ nước lớn đặng lên ruộng vì kinh cạn. Cậu kêu sắp nhỏ mời mấy bà con lên nhà chơi, nên cậu nghe kể lại con rạch nhỏ xíu của mấy cháu xáng vừa mới cạp ngang qua vườn ông Bảy. Cây cối cũng hao bộn vì con rạch cong mà xáng thì cứ đi thẳng tới, không bẻ cong được. Cái gì cũng vậy hai cháu à, đặng cái này thì mất cái kia, chứ đâu có cái gì toàn vẹn. Nghe nói khúc vườn của cháu cũng hư hao lai rai. Vài gốc dừa bị bứng trốc gốc. Mấy gốc xoài cũng lật gọng xuống kinh. Thôi cây đứng thì ăn trái, cây ngã thì làm chà, làm củi chứ biết làm sao. Phải hông hai cháu?
Mấy hàng cậu Hai thăm vợ chồng hai cháu cùng sắp nhỏ mạnh giỏi là cậu mừng.
Cuối thơ,
Hai Trầu

Xáng cạp – nguồn youtube
Mót lúa trên đồng
Kinh Xáng Bốn Tổng ngày 28 tháng 6 năm 2000
Có mấy lời thăm nom chú Hai Tiên,
Hổm rày, chú Hai ơi, tôi được cái thơ của chú gởi hỏi thăm sức khoẻ, tôi mừng dữ lắm. Trong thơ, chú có kể lại nào là dấu chân tiên trên núi, nào là chú xin được lá xăm “trung” sau một hồi lắc ống xăm trút ra nguyên cả ống đổ lào thào lợt thợt. Đọc thơ chú đến đâu tôi hiểu bụng chú Hai đến đấy. Chú ở nơi xứ xa về là nhớ núi, nhớ đồng, nhớ quê, nhớ quán rồi nhớ luôn những tập quán của mình, nên chú muốn tìm về chùa chiền, miếu miễu để cho tâm hồn bình yên lại trước bao cảnh vật đổi sao dời…
Chắc chú Hai cũng nhớ hồi nhỏ đi mót lúa trên đồng bên miệt kinh D, kinh F, rồi che tum, che chòi trốn nắng ban trưa. Xa xa những con cò ráng, cò trâu lững thững theo mấy cái lung còn lấp xấp nước phèn để mò mấy con cá bảy trầu, cá sặt mắc cạn. Hồi nhỏ tôi cũng như chú vậy chú Hai à, cũng bò lăn bò niểng trong đồng theo cộ bò mót mấy bông lúa đổ mà vui lắm. Nhắc đến đây, chú làm tôi tiếc hùi hụi. Phải chi hôm chú ghé ngang qua núi Sập, núi Ba Thê mà chú cho tôi hay trước, tôi bơi xuồng qua đó rước chú về nhà tôi chơi, rồi anh em mình mặc sức mà lai rai nhắc chuyện ruộng nương nghe cho phỉ tình.
Chú Hai sắp nhỏ,
Nơi chú kể chú xin được lá xăm trung, chắc là ngôi chùa Linh Sơn, nằm bên triền núi Ba Thê. Theo ông bà mình nói lại và theo bà con cố cựu ở chợ Ba Thê, thì chùa Linh Sơn trước kia chỉ bằng tre lá thôi chú Hai à! Người dựng chùa là ông đạo Tranh. Vị trí chùa nằm ngay trên nền của một đền đài nước Phù Nam đâu cả ngàn năm trước đặng. Tất cả gạch xây chùa Linh Sơn ngày nay như chú thấy đó cũng là gạch của Phù Nam do ông đạo Tranh đào được đó chú Hai à.
Mèn ơi, coi vậy chớ vùng Ba Thê, Núi Sập ở giữa chỗ vắng vẻ đồng lầy vậy mà lại là một di tích văn minh có từ mấy ngàn năm trước chớ phải chơi đâu chú. Chú có nghe ai nói với chú hai chữ “Óc Eo” chưa? Mấy cái gò Cây Thị, gò Cây Tôm, gò Đế, giồng Cát, gò Óc Eo quây quần với nhau như những hòn đảo giữa biển lúa mênh mông, nhìn mút mắt chú Hai à! Hồi mấy năm trước đây, vùng gò này dân tứ xứ đổ về đào bới bòn vàng giống như bên cánh đồng Bắc Dục, Phú Hòa. Cái nạn đào vàng này làm khổ dân tình làm ruộng lắm nghe chú. Tự dưng, đất đai của mình qua vài ngày biến thành vũng, thành hầm ráo trọi còn gì mà cày bừa sạ tỉa lúa thóc cho được. Nhưng lúc bấy giờ mình biết kiện thưa với ai bây giờ. Đành ôm bụng mà chịu trận. Sau nhờ vàng kiếm không có bao nhiêu, rồi người ta cũng ùn ùn bỏ đi ráo trọi. Chú Hai sắp nhỏ có biết hông, những người bòn vàng bỏ đi, dân ruộng mình lớp thì dùng leng, dùng cuốc, lớp mướn máy cày, máy xới trang bằng đất chỗ gò xuống chỗ hố, chỗ hầm để mà lo sạ tỉa lại cũng tốn bộn. Nghèo nghèo thì bán đất bớt lo trả tiền mướn nhân công. Khá khá thì xúc lúa bồ bán trả tiền trang đất lấp hầm. Biển dâu mà! Đâu phải đợi tới trời đất dông tố mới “tang điền” biến thành “thương hải” đâu chú! Đến thời trời là ruộng lúa thành biển thành lung rồi chú Hai à!

Chùa Linh Sơn, nằm bên triền núi Ba Thê – nguồn wikipedia
À chú Hai này, chú vô Ba Thê, mà chú có nghe bà con cố cựu ở đó nhắc hai tiếng Vọng Thê hông chú? Núi Ba Thê, tôi nhớ đâu chừng 210 thước chiều cao hà chú Hai. Vậy mà có nhiều di tích xưa còn để lại, như làng Vọng Thê là do sự tích hòn Phụ Tử ở Rạch Giá, hòn Vọng Phu ở miền ngoài…
Theo ông bà xưa kể, người chồng ở ngoài Trung, gốc người Chàm. Khi cha mẹ còn sống sanh được hai đứa con, một trai một gái. Sau vì loạn lạc, cha mẹ mất, anh em lưu lạc nên không còn gặp lại nhau. Người anh mới lấy vợ, sau sanh được hai con. Một hôm vợ chàng xõa tóc gội đầu. Người chồng thấy trên đầu của vợ có một cái thẹo. Chàng nhớ lại hồi nhỏ mình lỡ tay làm em mình bị bể đầu và có thẹo. Tự thẹn với bụng mình vì không biết mà anh em lại lấy nhau làm vợ chồng, quả vô cùng xấu hổ. Một hôm người chồng bèn nói gạt vợ là dắt đứa con lớn đi thăm bà con ít ngày. Khi bỏ quê lìa vợ, người chồng mới đến vùng Ba Thê này nương náu. Ngày ngày cứ lên núi Ba Thê trông ngóng về quê cũ hoài hà. Nỗi nhớ mong không cầm lòng đậu, nên chàng mới bồng con xuống xuồng tính băng đường về. Nhưng chợt nhớ lại, lòng chàng giằng xé tâm can, đành quay gót trở lại chân núi Ba Thê ngồi hoài rồi hoá đá. Và bà con từ đời xưa mới lấy tích đó mà đặt là làng Vọng Thê đó chú Hai!
Bước chân Tiên mà chú kể có lẽ từ mấy ngàn năm trước lúc người chồng này vừa mới đặt chưn đến vùng này cũng hổng chừng. Thôi thì, cho dù chân tiên hay chân trần gì, vùng núi này cũng đã có nhiều sự tích rồi chú Hai à! Trên cao có núi. Dưới triền núi có chùa xưa. Chung quanh núi có đồng lúa. Mùa nào thức ấy quanh năm, mà cũng quanh năm đập đá kiếm thêm tiền nữa chứ không phải đập đá vá trời như bà Nữ Oa nghe chú!
Cái thơ hơi dài rồi. Lại nữa, mấy bữa rày coi mấy trận đá banh giành cúp bên mấy nước Âu Châu, hai con mắt tôi cũng lờ mờ quá chú. Cha, trận banh giữa hai hội Hòa Lan với Tiệp Khắc, tôi thấy Hòa Lan ăn gì mà như chẻ tre vậy . Tiệp Khắc thua tới không có đủ thúng để đựng banh mang về xứ. Vậy tôi tạm ngừng ở đây. Tôi với chị Hai chú gởi lời thăm vợ chồng chú thím mạnh giỏi. Để huỡn, huỡn tôi sẽ viết thơ thăm chú thím. Tôi còn mắc nợ chị Sáu cái thơ hôm rồi; chắc sẽ ráng viết cho chỉ mấy tờ đặng chỉ đọc cho biết tình hình bên nhà. Lu bu vậy mà chỉ cũng viết thơ gởi cho tôi hoài hà chú Hai à!
Sau cùng tôi thăm sắp nhỏ mạnh, ráng học hành và nhớ giữ lấy lề nhà quê của mình nhe mấy cháu!
Cuối thơ,
Hai Trầu








