Tuyên truyền của phía chiến thắng tràn ngập youtube với vô vàn các video ngụy tạo nhằm bôi nhọ Quân đội Quốc gia. Phát thanh cũng qua Youtube, trang Ký Sử 1975 cho cách nhìn trung tính hơn về nội chiến. Người xưa không lấy thành bại để luận anh hùng nhưng trọng lòng quả cảm lúc sống và lúc chết. Tiêu chuẩn đó vẫn đúng cho các quả phụ của những sĩ quan đã tuẫn tiết, vì bằng nghị lực phi thường, họ đã giữ tiết tháo của chồng mình không hoen ố. Câu chuyện đời bà quả phụ Phan Thị Minh Yến, tự thân là một tấm gương.

Chép lại từ bản thu âm phát thanh trên youtube dưới tựa “Chồng Tuẫn Tiết ở Lai Khê, Vợ Ôm 4 Con Sang Mỹ và Từ Chối Mọi Vinh Danh”, tôi chọn thay tựa, vì quá dài, bằng tựa “Chiếc rương gỗ mang từ Hải Phòng”. Vì gia đình cô Phan Thị Minh Yến khi di cư từ Hải Phòng mang theo chiếc rương gỗ chứa những gì quý giá nhất và gìn giữ cho đến cuối tháng 4-75. Nếu Phan Thị Minh Yến buộc phải rời Sàigòn không thể mang theo vì quá nặng, chiếc rương đó hiện diện trong suốt đời bà. Nếu bà đành bỏ lại hòm gỗ, bà đã mang theo được những gì trân quý cất giữ bên trong.

Trang Ký Sử 1975 ẩn danh, không nêu tên người viết thoại và đọc, nhưng là một văn bản thu thanh hoàn chỉnh.

[Trần Vũ]

4 kỳ – kỳ 4

Virginia, những năm cuối thập niên 70

Ở nhà, 4 đứa trẻ ngày một cao lớn hơn mẹ, 3 cậu con trai thay nhau đảm nhận những việc nặng trong nhà, sửa cái này khiêng cái kia. Cô con gái út, đứa mà cả nhà gọi là em Đại còn ra ngoài thì mang tên Tường Vi, dần trở thành người bạn nói chuyện của mẹ. Buổi tối, hai mẹ con ngồi trong bếp bàn những việc rất nhỏ của một gia đình rất bình thường. Nhìn từ bên ngoài, đó là một mái nhà không có gì đặc biệt. Hàng xóm chỉ thấy một bà mẹ Á Đông đi làm đều đặn, giữ nhà cửa sạch sẽ, con cái ngoan và học giỏi.

Không ai đoán được rằng người phụ nữ ấy từng sống trong khu gia binh giữa một cuộc chiến. Không ai biết chồng bà từng chỉ huy hàng chục nghìn người lính, cũng không ai biết rằng ở một khu rừng cao su bên kia trái đất có một ngôi mộ không bia mà bà chưa từng nhìn thấy. Bà mang tất cả những điều đó đi làm với mình mỗi ngày rồi mang về nhà mỗi tối. Buổi tối ở nhà nhưng ca làm việc khó nhất trong ngày của bà không diễn ra ở tiệm tóc. Nó diễn ra sau bữa cơm tối trong căn nhà nhỏ có 4 đứa trẻ đang lớn lên rất nhanh. Bà từng nói rằng làm mẹ thì bà đã quen vì bà làm mẹ từ hồi còn ở quê nhà, phần khó là làm cha, nhất là làm cha của 3 đứa con trai đang tuổi thiếu niên trên đất Mỹ. Về chuyện đó có một câu bà nói rất gọn, cái gì cũng phải quyết định một mình.

Không có ai để bàn bạc trong đêm. Không có ai để chia phần trách nhiệm nếu quyết định sai. Chuyện học hành của các con chọn trường nào, học ngành gì, bà quyết định. Chuyện bọn trẻ va chạm với bạn bè có nên can thiệp hay để chúng tự giải quyết bà tự quyết. Chuyện tiền bạc tháng này ưu tiên khoản nào bà tự quyết. Rồi đến những chuyện mà một người mẹ Việt Nam thời ấy khó nói ra thành lời. Bọn trẻ lớn lên giữa hai nền văn hóa. Ở nhà là nếp Việt, ngoài đường là nếp Mỹ. Đến tuổi 15, 16 chúng bắt đầu có bạn khác phái, có những buổi tối muốn đi chơi xa. Có những điều không muốn kể với mẹ. Làm mẹ phải vừa giữ vừa buông và bà không có sách vở nào để tra cứu. Bà chỉ có kinh nghiệm của chính mình cùng  nguyên tắc mà chồng bà đã gửi lại trong tên của các con. Quang Minh Chính Đại, sống cho sáng rõ và ngay thẳng.

Có những đêm bà ngồi rất khuya, sau khi các con đã ngủ, ngày mai lại phải dậy sớm, lại phải bấm tấm thẻ chấm công, lại phải đứng suốt 8 tiếng. Bà tính toán các khoản chi trong tháng, ký giấy tờ nhà trường viết ra mấy chữ tiếng Anh còn ngờ ngợ để hôm sau hỏi lại người ta. Trên bàn cạnh xấp giấy tờ luôn có tấm hình cưới trước mùa xuân năm 1964. Người đàn ông trong ảnh không già đi ngày nào, còn người đàn bà ngồi trước tấm ảnh thì có. Nhiều năm trôi qua theo cách đó, bọn trẻ lần lượt tốt nghiệp trung học rồi vào đại học. Đứa này ra trường thì đứa kia vừa vào năm thứ nhất. Học phí, sách vở, tiền xe, tất cả đều tính từ đồng lương tính theo giờ của một người thợ làm tóc.

Bà không kể khổ với ai, cũng không xin trợ giúp của cộng đồng dù tên chồng bà là thứ có thể mở ra nhiều cánh cửa. Bà giữ kín thân thế của mình đúng như đã giữ suốt từ ngày đầu. Một buổi tối, khi cả nhà dọn sang chỗ ở mới, trong lúc chuyển đồ, một trong mấy đứa con lôi ra từ đáy tủ một chiếc hộp giấy đựng giấy tờ cũ. Bên trong có sổ sách, có mấy tấm ảnh, có cả những phong bì đã ngả màu.

Đứa con cầm lên một chiếc phong bì và đọc dòng địa chỉ viết tay ở mặt trước. Địa chỉ ấy viết bằng tiếng Việt có dấu đầy đủ nét chữ nắn nót của mẹ nó. Nơi nhận nằm ở một tỉnh miền Bắc cách nơi họ đang đứng gần nửa vòng trái đất. Đứa con ngẩng lên hỏi mẹ người nhận thư này là ai? Người mẹ đang xếp đồ dừng tay lại.Bà cầm lấy chiếc phong bì, nhìn dòng chữ ghi Sơn Tây rất lâu rồi mới trả lời. Bà nói rằng đó là bà nội của các con người mà chính bà cũng chưa từng một lần nhìn thấy mặt.

Xem thêm:   Miệng Nhà Quan ngày 8 tháng 10 năm 2026

Sơn Tây, miền Bắc Việt Nam, một lá thư từ nước Mỹ vừa về tới làng. Ở làng quê ấy, có một bà cụ đã chờ suốt 21 năm. Năm 1954, con trai bà theo dòng người vào Nam và từ đó hai mẹ con mất hẳn liên lạc. Không thư từ, không tin tức. Trong suốt hơn 2 thập niên, bà cụ không biết con mình còn sống hay đã mất, đã lấy vợ hay có con cái gì không. Bà chỉ biết rằng ngày nó đi nó còn rất trẻ. Rồi sau năm 1975, một lá thư từ bên kia trái đất tìm được đường về tới tay bà. Lá thư ấy mang theo hai tin và hai tin đến cùng một lúc. Tin thứ nhất là bà đã có một cô con dâu và 4 đứa cháu nội. 3 đứa cháu trai tên Quang Minh Chính. Đứa cháu gái út tên Đại còn gọi là Tường Vi. Tất cả đang sống ở nước Mỹ sau khi rời Sài Gòn vào tháng 4 năm 1975. Tin thứ hai là con trai bà đã chết.

Không ai hình dung nổi một buổi chiều như thế trong đời một người mẹ. Trong cùng một trang giấy, bà cụ biết mình có cháu và biết mình mất con. Niềm vui và tin dữ đến cùng một nhịp, không cái nào kịp nhường chỗ cho cái nào. Người con trai mà bà chờ suốt 21 năm ấy hóa ra đã nằm xuống từ trước ở một khu rừng cao su miền Đông Nam Bộ. Từ đó, giữa hai người đàn bà chưa từng gặp mặt nhau bắt đầu một mối quan hệ rất lạ.

Virginia những năm sau đó, bà Phan Thị Minh Yến làm dâu bằng thư từ. Bà chưa từng nhìn thấy mẹ chồng, chưa từng nghe giọng nói của cụ, chưa từng nấu cho cụ một bữa cơm. Tất cả những gì bà có là những trang giấy đi mất hàng tháng trời qua nhiều chặng mới tới được nơi. Bà viết bằng tuồng chữ nắn nót kể chuyện các cháu học hành thế nào, đứa nào cao lớn ra sao, đứa nào giống bố nhất. Chiếc phong bì gửi về Bắc Việt trở thành một vật cố định trong nhà.

Những năm đầu gia đình còn quá chật vật nên không tiếp tế được nhiều. Đồng lương tính theo giờ của một người thợ làm tóc phải chia cho 5 miệng ăn, cho tiền nhà, cho học phí. Bà gửi được chút nào thì gửi chút ấy và luôn kèm theo lời xin lỗi vì gửi ít. Về sau khi các con lớn dần và mọi thứ đỡ hơn, những khoản gửi về mới đều đặn hơn. Điều đáng chú ý nằm ở chỗ khác chứ không nằm ở số tiền. Người phụ nữ ấy hoàn toàn có thể ngừng lại. Chồng bà đã mất. Bà đang ở cách đó nửa vòng trái đất giữa một đất nước không ai kiểm soát bà, không ai đánh giá bà. Bà đang phải một mình nuôi 4 đứa con và không ai trách bà được nếu bà buông cái bổn phận ấy ra. Vậy mà suốt bao nhiêu năm bà vẫn viết thư, vẫn gửi tiền, vẫn giữ đúng phận dâu con với một người mà bà chưa từng gặp. Có những thứ ràng buộc con người mạnh hơn cả sự có mặt. Bà làm điều đó vì chồng.

Trong những lá thư gửi đi, bà kể rất kỹ về từng đứa cháu. Bà tả dáng người tả tính nết kể chuyện đứa nào học giỏi môn nào. Bà làm cái việc mà lẽ ra một bà nội phải tự tay làm nếu được sống gần cháu mình. Đổi lại những lá thư từ Sơn Tây gửi sang cũng kể về làng, về họ hàng, về những người ông Lê Nguyên Vỹ từng biết mặt hồi còn nhỏ.

Nhờ vậy, 4 đứa trẻ lớn lên ở Mỹ dần dần biết rằng bố mình cũng có một quê hương và quê ấy nằm ở phía Bắc. Với bọn trẻ Sơn Tây trước đó chỉ là hai chữ nghe rất mơ hồ. Sau những lá thư, hai chữ ấy bắt đầu có hình dạng. Nó là một làng có lũy tre, có đình. Có những người họ hàng mang cùng một họ với chúng. Có một bà nội thật sự đang sống ở đó chứ không phải một khái niệm trong lời mẹ kể. Cả gia đình duy trì đường dây liên lạc ấy suốt nhiều năm, không đứt đoạn, dù khoảng cách địa lý và thời cuộc đều không thuận lợi. Đó là cách một gia đình bị chiến tranh xé làm đôi, tự khâu mình lại bằng giấy và mực.

Ở đầu bên kia, bà cụ ở Sơn Tây cũng làm phần việc của mình. Khi tuổi đã cao, bà cụ đi một chuyến vào miền Nam. Ở đó, cụ gặp được các chị của bà Yến, những người còn ở lại sau năm 1975. Hai bên ngồi lại với nhau và câu chuyện xoay quanh đúng một việc là đưa người đã khuất trở về. Từ khi ông mất, phần mộ của ông đã qua một lần di dời. Thi thể ông ban đầu được chôn vội trong rừng cao su gần khu bộ tư lệnh ở Lai Khê. Sau đó, thân nhân đã bốc lên và cải táng về Hạnh Thông Tây thuộc vùng Gò Vấp. Ngôi mộ nằm ở đó nhiều năm, giữa một thành phố đã đổi tên và đổi đời sống. Nhưng bà cụ ở Sơn Tây muốn con mình về hẳn với đất tổ tiên ở làng quê nơi ông sinh ra. Đến năm 1987, việc ấy được hoàn tất. Hài cốt ông được hỏa thiêu rồi đưa về miền Bắc về từ đường của dòng họ Lê Nguyên tại quê nhà Sơn Tây.

Cuộc trở về của ông kéo dài đúng 33 năm kể từ ngày ông bước xuống tàu vào Nam năm 1954.Ông rời làng khi còn là một thanh niên 21 tuổi. Ông trở lại làng trong một chiếc bình nhỏ do chính tay mẹ mình đưa về. Người mẹ ấy đã làm xong việc cuối cùng mà bà còn có thể làm cho con. Sau đó ít lâu bà cụ qua đời. Người ta thường nói rằng có những người già chỉ chờ làm xong một việc rồi mới chịu đi. Trường hợp của bà cụ ở Sơn Tây gần đúng như vậy. Suốt hơn 30 năm cụ sống với một khoảng trống không ai lấp được. Cụ mất con vào tay thời cuộc rồi mất luôn cả quyền được biết con mình sống chết ra sao. Đến khi hài cốt của con nằm yên trong từ đường phần việc của cụ mới coi như xong.

Xem thêm:   Ký Sử 1975 - Chiếc rương gỗ mang từ Hải Phòng (kỳ 2)

Ở tỉnh Sơn Tây ngày nay tại ngôi đình làng cũ có thờ bài vị của tướng công Lê Nguyên Vỹ. Người đồng hương ghi nhận ông theo cách của họ với một chút tự hào.Với họ đó là một người con của làng đã đi rất xa và đã giữ chọn khí tiết theo cách ông tin. Lịch sử đã sang trang từ rất lâu và những đánh giá về cuộc chiến ấy vẫn còn khác nhau tùy người, tùy phía. Nhưng ở cấp độ dòng họ trong một ngôi làng, mọi chuyện giản dị hơn nhiều.

Người đi xa đã về nhà, còn người vợ thì chưa một lần đặt chân tới đó. Bà không có mặt trong ngày đưa hài cốt chồng về Sơn Tây. Bà cũng chưa từng đứng trước cái từ đường có bài vị của ông. Bà chỉ biết những việc ấy qua thư, qua lời kể lại, qua những dòng chữ viết tay, đi hết nhiều tuần lễ mới tới nơi. Bàn thờ của bà vẫn đặt trong căn nhà nhỏ ở Virginia với tấm ảnh cưới mùa xuân năm 1964.

Ngày cuối tháng 4

Mỗi năm bà làm giỗ chồng theo âm lịch đúng nếp người Việt. Nhưng bà còn dặn thêm các con một điều nữa. Bà bảo rằng vào ngày cuối tháng Tư dù đang ở đâu làm gì các con cũng phải dành ra vài phút tưởng niệm bố. Lý do rất rõ ràng là bố của chúng đã mất đúng vào ngày 30 tháng04 năm 1975. Vậy là trong gia đình ấy có 2 ngày giỗ. Một theo lịch của tổ tiên, một theo lịch của lịch sử.

Ngày giỗ theo âm lịch được làm ở nhà có mâm cơm, có nhang, có đủ mặt con cháu. Bà dậy từ sớm đi chợ, nấu những món mà chồng bà thích ngày xưa. Các con lớn dần rồi lập gia đình nhưng ngày ấy vẫn cố về đông đủ. Trên bàn thờ, tấm ảnh cưới ngày một cũ đi lớp giấy ngả sang màu vàng nhạt, còn ngày cuối tháng Tư thì lặng lẽ hơn nhiều.

Hôm đó bà xin nghỉ làm, khép cửa thắp một nén nhang rồi ngồi rất lâu. Trong tiệm tóc người chủ chỉ ghi vào sổ rằng cô Yến xin nghỉ một ngày vì việc nhà. Không ai hỏi thêm câu nào. Không ai biết rằng này ấy là ngày mà cả một quân đội tan hàng và là ngày một người đàn ông ở Lai Khê quyết định không rời vị trí của mình.

Nhiều năm sau, câu chuyện của bà bắt đầu lọt ra ngoài từng chút một. Trong cộng đồng người Việt có người nghe kể lại rồi tìm đến, có những cơ quan truyền thông muốn phỏng vấn, có những trung tâm nhạc muốn mời bà lên sân khấu để vinh danh, có cả người ngỏ ý muốn dựng phim về cuộc đời bà. Trước tất cả những lời mời ấy, người thợ làm tóc ở Virginia đều trả lời giống nhau.

Bà đến San José một mùa xuân nhiều năm sau. Lần đầu tiên bà đồng ý ngồi xuống và kể. Suốt hơn 30 năm, người phụ nữ ấy đã nói không với tất cả, không phỏng vấn, không lên sân khấu, không nhận hoa, không nhận bằng tưởng lệ, không nhận một lời vinh danh nào.Nhiều người thấy tiếc vì câu chuyện của bà đúng là thứ mà cả một cộng đồng cần được nghe. Nhưng bà vẫn từ chối lần này qua lần khác một cách nhẹ nhàng và dứt khoát. Rồi có một lần, đúng một lần bà đồng ý. Đó là dịp gần Ngày của Mẹ Mother’s Day khi một nhóm làm truyền thông của người Việt ở California thực hiện ghi chép về những phận người đi ra từ cuộc chiến, bà nhận lời kể lại đời mình bằng giọng của chính mình không qua ai thuật lại. Câu chuyện ấy sau đó được ghi lại thành một bài bút ký và nó lan đi rất nhanh trong cộng đồng. Điều làm người nghe xúc động không phải là những chi tiết bi thảm.Điều làm người nghe xúc động là giọng kể của bà. Bà nói về 30 năm ấy rất bình thản, gần như nhẹ nhõm, không một lời than.

Khi người phỏng vấn hỏi bây giờ bà làm gì, bà đáp rằng thì cũng vẫn chỉ có mỗi việc cắt tóc chải đầu. Rồi bà nói thêm rằng nghề chính của bà là vừa làm cha vừa làm mẹ. Khi được hỏi bà có buồn giận vì chồng đã không đi cùng vợ con năm 1975 hay không, bà trả lời rất thẳng; bà bảo ai mà chẳng muốn có vợ, có chồng, con cái, đứa nào cũng muốn đủ cả cha lẫn mẹ. Nhưng phần số đã như vậy thì mấy mẹ con phải sống sao cho phải đạo với sự hy sinh của ông. Bà nói rằng nếu ông còn sống, ông cũng chỉ mong đúng một điều là các con được học hành tử tế rồi dựng vợ gả chồng đàng hoàng. Và bà kết lại bằng một câu rất giản dị rằng bây giờ gia đình bà đã được như thế. 4 đứa trẻ ngày nào lần lượt tốt nghiệp đại học. 3 đứa con trai mang tên Quang Minh Chính. Đúng 3 chữ mà người cha đã chọn. Cô con gái út giữ cả hai cái tên của mình. Đại ở trong nhà, Tường Vi ở ngoài đời.

Cả 4 lập gia đình sinh con và người mẹ trở thành bà nội bà ngoại. Trong những bữa cơm sum họp ở Virginia quanh bàn đã có thêm một thế hệ nữa nói tiếng Anh nhiều hơn tiếng Việt. Người đàn bà từng dắt 4 đứa nhỏ qua sân bay Tân Sơn Nhứt năm 1975 đã làm xong việc của mình. Trong nhà bà bây giờ có tiếng trẻ con trở lại sau mấy chục năm vắng lặng. Lũ cháu chạy quanh bàn ăn gọi bà bằng thứ tiếng Việt lơ lớ học được ở nhà. Chúng chưa hiểu hết những gì đã xảy ra với gia đình mình trước khi chúng ra đời. Chúng chỉ biết ông nội, ông ngoại của chúng là một người lính và ông đã mất ở Việt Nam từ rất lâu.

Xem thêm:   Trận đánh hang

Bà ngồi giữa đám cháu nghe chúng nói chuyện, thỉnh thoảng sửa cho một chữ tiếng Việt bị phát âm sai. Với những đứa trẻ đó, ngày 30 tháng 04 năm 1975 chỉ là một dòng trong sách sử. Với bà, đó là ngày mà toàn bộ cuộc đời còn lại của bà được định đoạt. Hai cách nhìn ấy cùng tồn tại dưới một mái nhà, quanh cùng một mâm cơm. Và bà không hề muốn ép lũ nhỏ phải mang lấy gánh nặng của thế hệ mình. Bà chỉ dặn các con và các cháu đúng một việc rất nhỏ là mỗi năm nhớ dành cho ông vài phút.

Đến thời điểm câu chuyện được kể lại tính từ tháng 5-1975, bà đã sống ở Hoa Kỳ tròn 33 năm. Suốt ngần ấy năm bà vẫn làm đúng một nghề ở đúng vị trí một người thợ. Vốn tiếng Pháp và tiếng Anh học từ ngôi trường đầm Sài Gòn chưa bao giờ được dùng vào một công việc nào sang trọng hơn. Bà không tiếc điều đó và bà nói rõ vì sao bà đã chọn theo đuổi một nghề khác cao quý hơn trong mắt bà là nghề làm mẹ.

Sau lần kể ấy, bà lại lui vào bóng tối đúng như bà vẫn sống từ trước tới nay. Vậy thì rốt cuộc câu chuyện này để lại điều gì?

Điều thứ nhất là một cách hiểu khác về hai chữ hy sinh. Trong lịch sử, người ta thường ghi công những hy sinh diễn ra trong một khoảnh khắc, một quyết định dứt khoát, một buổi sáng không rời vị trí, một tiếng nổ sau cánh cửa khép. Sự hy sinh ấy đáng được ghi nhớ và tên tuổi của 5 vị tướng tuẫn tiết ngày 30 tháng 04 năm 1975 vẫn được nhắc đến với sự kính trọng cho tới hôm nay. Nhưng có một loại hy sinh khác kéo dài hơn rất nhiều và gần như không bao giờ được ghi vào sử sách. Đó là loại hy sinh diễn ra mỗi sáng suốt 30 năm liền. Là dậy sớm khi trời chưa ửng, là bấm tấm thẻ chấm công rồi đứng suốt 8 tiếng, là nhịn một câu nói nặng của khách để giữ lấy việc làm, là từ chối cơ hội mở tiệm riêng chỉ để buổi tối có mặt ở nhà với các con. Không có tiếng nổ nào ở đây cả, chỉ có tiếng kéo lách cách ngày này qua ngày khác cho đến khi 4 đứa trẻ lần lượt cầm được tấm bằng đại học. Cả hai loại hy sinh ấy đều bắt nguồn từ một chỗ giống nhau là ý thức về trách nhiệm. Người chồng cho rằng trách nhiệm của một người chỉ huy là ở lại với đơn vị của mình đến phút cuối. Người vợ cho rằng trách nhiệm của một người mẹ là đứng vững cho đến khi các con đủ sức tự đi. Ông làm xong phần của ông trong một buổi sáng. Bà làm xong phần của bà trong 30 năm.

Điều thứ hai nằm ở chính sự im lặng của bà. Trong tay bà luôn có một thứ mà bà chưa bao giờ dùng, đó là tên tuổi của chồng. Cái tên ấy đủ sức mở ra rất nhiều cánh cửa trong cộng đồng người Việt hải ngoại. Nó có thể mang lại sự trợ giúp, sự ưu ái, những vị trí trang trọng trong các buổi lễ. Bà không dùng đến nó một lần nào. Bà chọn để người ta chỉ biết mình là cô Yến làm tóc. Có một nghịch lý rất đẹp ở đây. Chính vì bà không đòi hỏi được ghi nhận mà khi câu chuyện của bà được kể ra nó mới có sức nặng đến vậy. Nếu bà lên sân khấu nhận hoa từ những năm 80, có lẽ hôm nay chúng ta đã nhớ về bà theo một cách khác, mờ nhạt hơn nhiều. Danh vọng là thứ đến rồi đi. Còn 30 năm đứng trong một tiệm tóc thì không ai diễn được và cũng không ai lấy đi được.

Điều cuối cùng và cũng là điều còn lại lâu nhất là chuyện gia đình. Cả câu chuyện này từ đầu đến cuối thực ra chỉ xoay quanh những sợi dây ràng buộc giữa người với người. Một người cha gửi lại niềm tin của mình trong tên của 4 đứa con. Một người vợ giữ trọn phận dâu con với mẹ chồng chưa từng thấy mặt. Một bà cụ ở Sơn Tây sống thêm những năm cuối đời chỉ để đưa được hài cốt con về đến từ đường họ tộc. Ai trong số họ có quyền lực gì trong tay vào lúc ấy? Họ chỉ có tình thân và tình thân đã làm xong tất cả những việc mà lịch sử không làm.

Câu chuyện vừa kể được biên soạn từ những tư liệu và hồi ức đã phổ biến trong cộng đồng với mong muốn tìm hiểu số phận con người trong một giai đoạn nhiều biến động. Nó không nhằm đánh giá thể chế nào cũng không nhằm công kích bất cứ ai. Ở giữa mọi cuộc chiến bao giờ cũng có những người mẹ ở lại và gánh phần còn lại. Và họ xứng đáng được nhớ đến.

Sau tất cả hình ảnh đọng lại rõ nhất không phải là quân phục cũng không phải chiến trường. Đó là một cái đinh chưa bao giờ được đóng lên tường và một tấm ảnh cưới nằm trong đáy rương suốt những tháng cuối cùng của cuộc chiến. Sau này tấm ảnh ấy được đặt lên bàn thờ trong một căn nhà nhỏ ở Virginia.

Người đàn ông trong ảnh mãi mãi 31 tuổi. Còn người với phụ nữ đứng bên cạnh ông thì đã đi thêm một quãng đường rất dài một mình với một cây kéo trong tay./. (Hết)

TV chép lại và hiệu đính từ bản thâu âm phát thanh trên youtube Ký sử 1975.