Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Tổng Thống VNCH 1972 

Đối thoại khá lạc quan của Đại Úy Hy trong chương Tâm Sự Tù Binh phản ảnh tinh thần của Quân lực VNCH vào Tết Tân Hợi 1971: Tự tin sau Mậu Thân 1968 và sau Hành quân Toàn Thắng 42 tháng 3-1970 sang đất Miên của Trung Tướng Đỗ Cao Trí. Tuy nhiên, vì không là sĩ quan tác chiến nên có lẽ Đại Úy Hy không nhận ra việc Bắc quân ném một đại đội trừ tấn công một căn cứ hỏa lực, với các hạ sĩ quan thiếu kinh nghiệm chỉ nhằm ước lượng sức đề kháng, hỏa lực cùng cách bố phòng của phía Nam-Việt. Thí 50 cán binh, với Lê Trọng Tấn, Tư lệnh Chiến dịch Đường 9 Nam Lào, là một giọt nước. Cách đánh dứ này, Lê Trọng Tấn đã thực hiện tại Ao Trạch, Tu Vũ, Xóm Pheo, Hòa Bình 1951. HopaHoa2 Bình [Trần Vũ]  

—oOo— 

Trương Duy Hy

CÁNH THƯ NHÀ

Rạng ngày 13-2-71, trong bữa điểm tâm với Trung Úy Lân, bất giác tôi cảm thấy lo ngại. Tình hình chạm địch ngày càng gia tăng. Sau khi hội ý, chúng tôi đốc thúc nhân viên các khẩu làm nắp các hầm đạn và nạp quanh ụ súng, đổ đất dày, chuẩn bị cho cuộc chiến đấu lâu dài. Riêng các hầm đạn chính, vì quá rộng đành phải để lộ thiên.

Ngay trưa hôm nay, chúng tôi hoàn tất Đài Tác Xạ, hầm ngủ sĩ quan, hầm ngủ binh sĩ… tất cả trông có vẻ kiên cố lắm. Mỗi hầm có hai cửa ra vào.

Chúng tôi được BCH/TĐ can thiệp với Pháo Binh Dù, chỉ thị cho Pháo Đội C3 của Trí cung cấp cho chúng tôi một số thùng gỗ, song trên thực tế, vị trí PĐC3 Dù cần rất nhiều để thực hiện hầm, nên chúng tôi xin cũng không được bao nhiêu. Âu đó cũng là cái may sau này… Chúng tôi xử dụng tối đa dữ liệu tác xạ cơ hữu, nhất là ống sắt và palette nạp cùng cây rừng làm nóc, bên trên chất bao đất và đổ đất thật dày.

Cơm chưa xong, chúng tôi tác xạ cho Đại Đội 321 và 322 của Tiểu Đoàn 2 Dù tung ra xa hoạt động suốt 30 phút. Kết quả được báo về cho chúng tôi ngay: tịch thu 1 B40, 5 AK, 19 xác Cộng quân đếm tại chỗ, 1 tù binh.

Vào lúc 14g00 chúng tôi tiếp nhận thêm 14 “sortie” đạn, nạp và thực phẩm tươi. Trong một thùng carton sữa, vợ tôi gởi cho tôi 3 cây thuốc Ruby, 1 ký lạp xưởng, 1 gói trà và 5 lá thư của vợ tôi cùng 4 đứa con niêm trong một phong bì.

Thằng áp út Trương-Bách-Chiến của tôi, tự ý nó viết “…Ba đi hành quân ở Lào, Ba phải giết thật nhiều Việt cộng, để lúc về con được thấy Ba mang huy chương đầy ngực, nếu Ba không chiến thắng con buồn lắm…”

Vợ tôi, cuối thư lại có câu “…Hàng đêm em cầu nguyện xin Trời Phật phò hộ chồng tôi là Trương-Duy-Hy cùng các bạn đồng đội của Anh gặp nhiều điều may mắn trong nhiệm vụ…”

Vợ tôi nhắc rằng, câu đó cũng là câu cầu nguyện hàng đêm mà mỗi con tôi phải tĩnh tọa đọc lên nhiều lần, tối thiểu là 20 lần trước khi đi ngủ.

Đặc biệt chỉ có Bách-Chiến cầu nguyện khác hơn anh chị em nó. Trong lời cầu nguyện thế nào cũng có câu “…Cầu Trời Phật phò hộ cho Ba con chiến thắng giết nhiều Việt cộng…”

Vợ tôi bảo nó:

– Sao con lại mong cho Ba con giết người! Họ bị thương họ đau đớn lắm! Họ bị giết thì con cái họ mất cha, mất tình thương của bố. Con đã buồn và nhớ Ba khi Ba đi hành quân lâu về, huống gì Ba con không về nữa thì con, anh Thắng, chị Bi, chi Na, em Hảo con khổ biết chừng nào? Họ cũng thế! Sao con lại nghĩ đến giết chóc ghê tởm vậy.

Nó gân cổ cãi:

– Đánh giặc thì phải giết nhiều giặc, phải thắng chứ bộ. Con không muốn Ba thua…

Đôi khi nó lý luận với anh chị em nó về cuộc hành quân sang Lào, tưởng tượng cảnh giao tranh quyết liệt, trong đó Ba nó phải thắng và sẽ trở về lãnh nhiều huy chương…

Trong lúc, ở góc Đài Tác Xạ, Trung Úy Lân đang loay hoay mở một thùng carton, lôi ra, nào là thư vợ, bắp su, lọ cà phê, táo cam và những hộp guigoz đựng đầy đùi gà rôti. Cứ mỗi món nhấc lên là mỗi lần anh ta đọc “món hàng” in như người đang giới thiệu các sản phẩm. Rồi không kịp thu xếp lại, anh ta mở vội lá thư của bà xã mà đọc ngấu nghiến…

Nhìn ra ngoài khẩu, các anh em pháo thủ được thư nhà cũng hí ha hí hửng lẩm nhẩm vừa đọc vừa gật gù trông đến khoái! Nhưng có lẽ đây là chuyến tiếp tế đầu tiên nên đa số gia đình anh em pháo thủ chưa kịp gởi gì lên cho anh em. Tôi cho gọi tất cả anh em Khẩu Trưởng và các Trưởng Ban vào hầm cắt đặt công tác. Nhân dịp tôi đọc đoạn cuối bức thư vợ tôi cầu nguyện cho anh em, đồng thời tôi biếu mỗi người một gói Ruby Quân tiếp vụ. Bấy giờ thuốc hút thật là quý. Nhất là Ruby. Hầu hết anh em đã hút sạch số thuốc mang theo. “Câu lạc bộ di động” của Tiểu Đoàn 2 Dù chỉ có xì dầu, hột vịt lộn, mì rame. Thuốc rất ít, không đủ bán cho anh em Dù nên chúng tôi có tiền cũng đành chịu!

Xem thêm:   Samurai! - Saburo Sakai (kỳ 36)

Nghe có món hàng như trên, Lân vội vàng qua “nài” được 20 trứng vịt lộn. Khuya, 5 anh em chúng tôi: Hy, Lân, Ngân, Thiện, Toại, mỗi người 4 quả. Chưa bao giờ tôi ăn ngon miệng đến thế! Lúc ở nhà không khi nào tôi ăn hết 2 quả. Vậy mà khuya nay, tôi ăn hết 4 quả, trông còn thèm! Thiện gặp xui, chàng bị 1 quả ung, chép miệng “than thở”!

Lúc mọi người đã ngủ, chỉ còn ai có phận sự trong phiên gác là đăm đăm mắt quan sát từng lùm cây bụi cỏ ven vị trí… Tôi cài bóng đèn nhỏ vào viên pile phế thải từ chiếc máy PRC-25 đọc lại thư nhà! Tôi đọc thật kỹ! Hình ảnh gia đình đầm ấm hiện dần trong trí tôi với bao nhiêu kỷ niệm êm đềm hạnh phúc… Giờ đây, tất cả đã xa tôi và không biết rồi đây những gì sẽ xảy đến. Bao nhiêu ý tưởng, bao nhiêu câu hỏi bỗng dưng nổi lên buộc tôi phải suy tư về cuộc đời của một lính chiến. Từ lâu, những ngày phép ít ỏi đã giới hạn những gì mà tôi hằng mong mõi có thể giúp đỡ cho gia đình nhiều hơn, bày vẽ cho con cái học hành tiến bộ hơn… tất cả những điều đó thật là dễ dàng thực hiện, vậy mà tôi chưa bao giờ nghĩ rằng sẽ thực hiện được! Dâng cuộc sống cho Tổ quốc, cho Đại Gia Đình Quân Đội, tôi đã chấp nhận và mặc nhiên chấp nhận hy sinh một phần không nhỏ tình cảm đối với gia đình. Giờ đây, trước địch thủ, trước những thiếu thốn, những vất vả liên tục mà tôi là đầu tàu của các pháo thủ, nhiệm vụ và bổn phận đã vo tròn vào một cái thế gương mẫu chẳng còn đầu óc nào nghĩ đến gia đình. Vì lẽ đó, giữa cái tình của gia đình và bổn phận đã làm cho tôi cũng như các bạn tôi tại đây có những lý lẽ riêng trong suy tư. Nhưng chắc chắn những suy tư ấy sẽ không khác nhau…

…Khí hậu Hạ Lào lạ và độc, khắp người tôi ghẻ bắt đầu tác oai tác quái. Dù vậy, tôi cũng không dám xử dụng nước để tắm! Hàng đêm, múc khoảng một nón sắt nước, dùng khăn lau qua loa… Ban ngày nắng lên, bụi đất bám đầy người càng làm cho da thịt xót xa khó chịu. Các pháo thủ có vài người không chịu nổi khí hậu đã bắt đầu rên rét trong những cơn rét rừng viễn xứ.

TÂM SỰ TÙ BINH

Tảng sáng ngày 14, khi mặt trời vừa ló trên đỉnh núi phía Đông, Đại Đội 321 và 322 của Tiểu Đoàn 2 Dù lại chạm súng mạnh với địch. Tiếng súng cối hòa lẫn với tiếng nổ của AK, M79, lựu đạn dòn dã vọng lại từ hai tiền đồn Đông Nam… Chúng tôi thi hành tức khắc yểm trợ cho hai đại đội này.

Mãi đến 10g00 trưa tiếng súng mới im bặt. Tôi qua BCH/TĐ 2 Dù gặp Đại Úy Hạnh, Trưởng Ban 3, đang liên lạc máy. Đại Úy Hạnh cho biết kết quả sơ khởi do hai Đại Đội trên vừa tịch thu được: 4 AK, 16 Việt cộng chết tại chỗ, 1 Thượng liên, 1 Thượng sĩ Việt cộng bị bắt làm tù binh.

Tôi ngồi tại đấy đấu láo với Đại Úy Hạnh trọn một tiếng đồng hồ chờ trực thăng đến vận chuyển chiến lợi phẩm và tù binh từ tiền đồn về.

…Tôi xin phép ra gặp Thượng sĩ tù binh — Cùng lúc, Trung Úy Trưởng Ban 2 đang lấy lời khai. Được biết Thượng sĩ ấy tên là Thanh, khoảng 25, 26 tuổi, tuy bị thương nhưng Thanh vẫn còn tỉnh táo, nói giọng Bắc nhỏ nhẹ.

Tôi chờ cho Trung Úy Ban 2 làm xong nhiệm vụ, tôi ghé hỏi vài câu… Đồng thời, chiến lợi phẩm được tiếp nhận đưa vào BCH/TĐ. Tôi liếc nhìn thấy có nhiều bi-đông và các binh sĩ Dù cho biết trên mỗi xác chết đều có 2 bi-đông: 1 đựng rượu, 1 đựng chất nước đắng và 1 mặt nạ phòng hơi độc, hơi cay.

Tôi hỏi Thanh:

– Anh lên Thượng sĩ bao lâu? Do công trạng gì?

– Tôi mới mang cấp bậc Thượng sĩ vài tháng nay vì có công chuyển vận các tiếp liệu phẩm vào Nam Việt Nam và Campuchia.

– Tết vừa qua anh ăn Tết ở đâu? Có được về với gia đình không?

– Đã sáu năm nay đi công tác, chúng tôi nhớ gia đình lắm nhưng không được về thăm nhà vì công tác của nhân dân giao phó nặng nhọc và liên tục.

Tôi sực nhớ mấy cái bi-đông lúc nãy, nên nhân tiện tôi hỏi tiếp:

– À, còn hai bi-đông mà binh sĩ các anh dùng, sao lại một cái đựng rượu, một cái đựng chất đắng?

– Bi-đông đựng rượu kẻ có người không, ai thích rượu thì được cấp thêm cho, còn không thích rượu thì có thể dùng đựng nước suối uống. Riêng bi-đông đựng chất nước đắng, mỗi chúng tôi đều có, khi lâm chiến. Chúng tôi dùng nó để khỏe người và tăng thêm can đảm khi tấn công các anh.

– Anh có biết đơn vị chúng tôi đang hoạt động ở đây là đơn vị Nhảy Dù thiện chiến không? Và các anh đã dùng bao nhiêu quân tấn công vào tiền đồn của chúng tôi?

– Chúng tôi biết lực lượng của các anh là lực lượng Dù do các vị chỉ huy tôi bảo thế. Vừa rồi, trước khi đi đánh các anh, cấp chỉ huy của chúng tôi cho biết các anh bị chúng tôi pháo kích bằng súng cối 82 ly, 57 ly (đại bác trực xạ của bộ binh) mấy hôm nay đã chết gần hết. Bây giờ, chỉ còn 5, 6 người trong đồn, nên lực lượng tấn công vào các anh sáng nay, chúng tôi chỉ dùng 1 K (bằng 1 đại đội).

Xem thêm:   Samurai! - Saburo Sakai (kỳ 35)

– Quân số 1 K của anh bao nhiêu?

– Khoảng 50 người, 47 hoặc 48.

– Anh nghĩ thế nào trước và trong khi chiến đấu?

– Khi nhận lệnh, chúng tôi đều tin tưởng chiếm đồn các anh dễ dàng, nhất là được cấp chỉ huy cho biết số quân giữ đồn 5, 6 người đã mất hết tinh thần. Chúng tôi ra đi hăng hái lắm, cứ tính làm sao bê cho hết các chiến lợi phẩm về nạp cho Bộ Chỉ Huy. Nhưng khi lâm chiến, chúng tôi vô cùng kinh ngạc! Các anh đông và chiến đấu ác liệt quá!

Thoạt tiên, sau loạt đạn khai hỏa của bọn tôi, các anh vứt quả gì tròn tròn nổ chát tai, mảnh văng tung tóe, xong các anh bồi thêm cối vào chúng tôi – Cối quá nhiều! Chúng tôi chỉ nghe tiếng nổ khủng khiếp của hai loại vũ khí này chứ không nghe tiếng súng nhỏ tiểu liên. Vì vậy, chúng tôi không biết các anh nấp ở hầm nào đánh chúng tôi, nên chúng tôi không còn kịp dùng B40 và 57 chống trả.

– Lúc đó các anh có sợ lắm không?

– Dạ sợ! Các anh cối liên tục, chúng tôi không ngóc đầu được. Lại cấn thế đất, vì chúng tôi dự định sau khi khai hỏa sẽ ào lên đồn, nhưng triền núi quanh đồn dốc quá, đành phải nằm lại chịu trận. Tôi nhìn quanh thấy các bạn đồng đội bị thương và chết gần hết. Kế đó, tôi cũng bị thương, không chạy lui được nữa. Tôi lết đến bụi cây nằm sát vào bục đất nghỉ đỡ. Quanh tôi vẫn không dứt tiếng nổ ầm ầm, lửa chớp, đất bụi tung khắp nơi… Sau đấy, chờ cho tiếng súng im hẳn, tôi lắng tai nghe động tĩnh… Chỉ có tiếng rên rỉ, hấp hối của binh sĩ bên chúng tôi làm cho tôi thêm sợ. Tôi không tin tôi có thể sống, nếu phải đợi đến tối bò về Bộ Chỉ Huy vì máu ở vết thương ra nhiều.

– Sao anh không lên tiếng đầu hàng khi bị thương?

Anh ta nhếch mép cười:

– Đánh nhau làm sao xin đầu hàng được. Vả lại, dù có xin đầu hàng cũng không thể sống được với đồng đội, họ sẽ xử tôi ngay. Nhưng may, sau đó các anh lục soát gần đến chỗ tôi nấp. Trong tích tắc, ý nghĩ đầu hàng hiện trong trí tôi. Tôi đánh liều lên tiếng xin các anh đừng giết tôi. Tôi được các anh vội vàng đến khiêng vào đồn, băng bó vết thương ngay. Tôi thật tình cảm động như chính các anh sinh ra tôi một lần nữa!

– Thế anh có hận gì cấp chỉ huy của anh không?

Đăm chiêu và im lặng trong giây lát, anh chậm rãi trả lời:

– Chúng tôi đã bị lừa dối trước khi xuất quân. Bây giờ biết thì đã muộn rồi!

– Hỏa lực cá nhân của các anh mang theo nhiều không?

– Chúng tôi mang theo đủ loại B40, 57, AK, thượng liên…

– Đạn dược dồi dào không?

– Mỗi khẩu AK được phát 3 băng đạn. Chúng tôi cận chiến trang bị nhẹ vừa đủ xử dụng tấn công chớp nhoáng vào các anh thôi.

Tôi lắc đầu tiếp:

– Tội cho các anh thật, chắc các anh không biết là các anh đã lầm lẫn một cách tai hại. Mỗi vị trí đóng quân của chúng tôi, chung quanh biết bao nhiêu mìn chống biển người. Còn đạn dược đối với các đồn cố định, có thể xử dụng suốt cả tháng cũng không hết, thì với vài băng AK làm sao các anh tấn công nổi.

Anh ta gân cổ lên cãi:

– Vì Bộ Chỉ Huy của chúng tôi nhận báo cáo sai về tình hình trong đồn các anh, do đó kế hoạch tấn công không sát với thực tế. Chứ từ trước đến nay chúng tôi thường xử dụng bằng ấy đạn để chiến đấu.

Một ý nghĩ thoáng nhanh trong trí tôi: Thật đáng thương cho số phận của các chiến binh Cộng sản. Họ bị lợi dụng xương máu một cách trắng trợn. Ngay cả việc trang bị hỏa lực cho binh sĩ cũng thiếu sót quá đáng. Ấy vậy mà người lính chiến vẫn cảm thấy đầy đủ quá rồi!

Tôi giải thích cho anh ta:

– Khi nãy anh có bảo chúng tôi sử dụng cục tròn tròn và nhiều cối… đó là lựu đạn và đạn của súng phóng lựu M79 bắn thẳng, chứ ở tiền đồn chúng tôi không mang theo súng cối nhiều như anh tưởng đâu!

Tội nghiệp cho anh ta! Thật tình anh ta không biết các vũ khí đó chứ không phải anh ta giả ngộ. Nhìn trên nét mặt ngơ ngẩn của anh lúc tôi giải thích các “cục tròn tròn” và “cối”, tôi mới hiểu rằng — có lẽ trước đây anh ta chỉ công tác tại các đơn vị tiếp liệu, các trục giao liên, chứ chưa chiến đấu trực tiếp bao giờ (?) Đây quả là lần đầu anh ta tham chiến công đồn! Đồi với anh, những quả “na” vỏ sắt, bên trên có cần làm bằng gỗ mới là lựu đạn. Ngoài ra, lúc tấn công anh đã vào gần sát rào của tiền đồn thì súng cối với đạn đạo vòng cát làm sao sát hại được hiệu quả như thế? Vậy mà anh vẫn nghĩ rằng các bạn anh bị thương và chết vì đạn súng cối! Chả trách các anh em Dù nhận xét “Cộng quân ở Hạ Lào không kinh nghiệm bằng Cộng quân ở Tây Ninh hoặc bất cứ nơi nào tại Nam Việt Nam mà chính anh em đã đụng độ”. Phải chăng miền Bắc đã vơ vét sạch các đơn vị yểm trợ như các ngành Tiếp liệu, Quân nhu,… bổ sung cho đơn vị chiến đấu vì đã hao hụt quá nhiều quân số?

Xem thêm:   Samurai! - Saburo Sakai (kỳ 34)

Trước khi rời anh, tôi bảo:

– Thế là may cho anh lắm rồi. Giờ đây đương nhiên anh được săn sóc đầy đủ như một thương binh của chúng tôi. Trực thăng sẽ đưa anh về Quân Y Viện để các bác sĩ tận tâm cứu chữa. Tôi hy vọng vết thương của anh chóng lành…

Các binh sĩ Dù quây quần lại hỏi han, kẻ cho thuốc hút, người cho thức ăn, nước uống. Có anh mời cả cà phê, nhưng vì không quen dùng cà phê, Thanh nhấm một tí rồi xin lỗi từ chối.

Nhìn vào cử chỉ hào hiệp đó của binh sĩ Tiểu Đoàn 2 Dù, tôi cảm động hơn bao giờ hết. Bài học lúc còn ngồi ghế trường Trung Học Phan-Châu-Trinh Đà Nẵng hiện lên rõ trong óc tôi:

…Con ơi! Một ngày kia con sẽ đi lính. Nếu phải đi đánh giặc, thì con phải đánh thật hăng say. Vì đó là nhiệm vụ của con, nhưng khi chiến trận chấm dứt, nếu kẻ thù của con bị thương, con nên coi họ chỉ là một người anh em khốn khổ… Con hãy thương xót họ, săn sóc họ, an ủi họ. Có lẽ con sẽ xứng đáng nếu một ngày kia, con cũng bị thương mà được một kẻ thù săn sóc và an ủi con. Con ơi! Đó là tình nhân loại vậy. (BERSOT)

Chính Giáo sư Trần-Ngọc-Quế bắt tôi dịch ra Việt Văn trong bài:

…Enfant, tu seras soldat un jour. S’il t’arrive de te battre, tu te battras en conscience, parce que c’est ton devoir, mais une fois le combat fini, si ton ennemi est blessé, ne vois plus en lui qu’un frère malheureux… Aie pitié de lui, soigne-le, console-le. Tu mériteras peut-être que, si toi aussi, tu tombes un jour blessé, il vienne un ennemi qui te soigne et te console. Cela, mon enfant, c’est l’humanité. (BERSOT)

Hẳn Giáo sư Trần-Ngọc-Quế không ngờ rằng – ngày nay, đứa học trò 18 năm về trước của Giáo sư đang chứng kiến “Tình Nhân Loại” ấy ngay trận địa quyết liệt ở Hạ Lào, trong khung cảnh ngập đầy máu lửa, giữa rừng thiên nước độc, đèo heo hút gió này! Mà hào hùng và đẹp đẽ thay, “Tình Nhân Loại” đó lại được nảy nở trong lòng các chiến binh Thiên Thần Mũ Đỏ.

Tôi tin rằng những lời an ủi của tôi và những hành động vô cùng nhân đạo của binh sĩ Dù — ít ra cũng xoa dịu được phần nào vết thương trên cơ thể của Thanh — một cừu địch của chúng tôi trước đây vài tiếng đồng hồ!

Rời Thanh, tôi tìm gặp Trung Tá Thạch bày tỏ lòng hân hoan của Pháo Đội tôi qua các chiến thắng liên tiếp vừa xảy ra. Tôi ao ước có một khẩu AK để làm kỷ niệm, Trung Tá hứa cho!

Cùng ngày này, Tiểu Đoàn 39 Biệt Động Quân hoạt động ở Đông Bắc, cách chúng tôi khoảng trên 4 cây số, chạm địch lẻ tẻ. Tuy chúng tôi không có nhiệm vụ yểm trợ cho Biệt Động Quân nhưng vẫn biết tin tức là nhờ hệ thống liên lạc của BCH/TĐ2 Dù. Việc yểm trợ trực tiếp cho Biệt Động Quân do Tiểu Đoàn 64 Pháo Binh và vài pháo đội khác tăng cường đóng ở Phú Lộc (nằm sát ranh giới Lào-Việt, trên lãnh thổ Việt Nam) phụ trách mà tôi không được rõ.

Khoảng 15g00, 16g00 Tiền Sát viên cánh BĐQ lại vào máy xin tôi tác xạ (qua Sĩ quan Liên lạc Phú Lộc). Tôi phải gọi Bạch Phú (Danh hiệu của Tiểu Đoàn 3 Pháo Binh Dù) ở căn cứ Hỏa Lực 31 trình bày trường hợp này. Đồng thời tôi yêu cầu cho tôi được phép giúp đỡ cho BĐQ. Ngỏ lời cùng tôi, Bạch Phú không bằng lòng, vì việc yểm trợ đã được quy định rõ trong lệnh hành quân rồi. Tuy nhiên, cuối cùng Bạch Phú cũng thuận cho tôi hướng 2 khẩu yểm trợ và bắt buộc tôi, sau khi chấm dứt tác xạ phải lập tức quay súng về hướng chính, sẵn sàng tác xạ cho các cánh quân đang bảo vệ căn cứ Hỏa Lực 31.

Đồng thời với những tác xạ này, pháo đội tôi còn phải tiếp nhận đạn do Chinook mang đến khoảng 1000 quả.

Thấy pháo thủ mệt mỏi quá, tôi lại phát thêm trái cây, gạo sấy! Nhờ đó anh em cũng đở dạ phần nào, ngoài những bữa ăn chính sau các công tác nặng nhọc.

(Còn tiếp)

TDH, 1971

Kỳ sau: NHỮNG LỜI NGỢI KHEN CỦA THƯỢNG CẤP VIẾNG PHÁO ĐỘI

(*) Trần Vũ đánh máy lại tháng 10-2018 từ bản in của Nxb Đại Nam 1980. 

 (**) Lexique: Tiểu Đoàn (TĐ), Bộ Chỉ Huy (BCH), Pháo Binh (PB), Pháo đội C (PĐC), Trung Sĩ Nhất (TSI), Trung Sĩ (TS), Hạ Sĩ Nhất (HSI), Hạ Sĩ (HS).

(***) Ảnh minh họa sưu tập từ Beaufort County Now, Dòng Sông Cũ, Hoàng Sa, Pinterest, Cherrieswriter, vuhmai.blogspot, Getty Images, Militaria, Nam magazine và vnaf.