Cõi Đá Vàng của Nguyễn Thị Thanh Sâm, như chúng ta đã thấy qua bài viết của Trần Thị Nguyệt Mai trong kỳ trước, phản ảnh thực tại khốc liệt dưới thời Cộng Sản ở những năm đầu của cuộc kháng chiến. Sau đây là phần kế tiếp của bài viết. NGUYỄN & BẠN HỮU

Trần Thị Nguyệt Mai

(tiếp theo và hết)

Tác giả cũng đề cập tới việc “vắt chanh bỏ vỏ” của người Cộng sản. “Trong những thời kỳ kháng chiến còn trong vòng bí mật, người ta dành những tình cảm giống nhau đối với người Quốc Dân Ðảng cũng như người Cộng sản, … người ta yêu mến và tôn sùng tất cả những ai xả thân cho Tổ quốc.

Nhưng… khi chính quyền kháng chiến đã có cơ sở ở khắp mọi nơi, khi bộ đội Vệ Quốc đoàn đã lớn mạnh, đã đủ sức mở những chiến dịch làm cho địch quân kinh hồn bạt vía, khi mà mọi người đều có thể thấy ngày chiến thắng không còn bao xa nữa, thì trong đời sống kháng chiến đã phân chia rõ rệt hai giai cấp, giai cấp đảng viên thống trị và giai cấp quần chúng bị trị…

Do đó, họ xiết bao kinh ngạc và cảm thấy bị hụt hẫng khi thấy chính quyền kháng chiến do người Cộng sản lãnh đạo có thái độ lãnh đạm loại bỏ hay hững hờ với sự cộng tác nhiệt thành của lớp người bị họ phân loại là thành phần tiểu tư sản, địa chủ hoặc phú nông, đó là lớp người đông đảo đã góp khả năng đáng kể về tinh thần lẫn vật chất để đưa cuộc kháng chiến đến mức trưởng thành như ngày nay.”

Ðến giai đoạn này thì Trung tâm Cải hối Tây Hạ đã giam giữ rất nhiều những người yêu nước, hoặc có hành động chống lại với chủ trương sắt máu của Ðảng hoặc thuộc thành phần tiểu tư sản bị nghi ngờ là có quan hệ với “địch” như Lương, như Bằng… Bằng từng hoạt động bí mật trong nội thành, từng bị mật thám Tây bắt, sau này bị liệt vào thành phần tiểu tư sản không cho đánh Tây nữa nên lui về quê nhà thì bị bắt lại đem bỏ tù, bị chính những người từng là “đồng chí” của mình lấy chày giã gạo giã vào ngực. Bằng tuyên bố một câu “xanh rờn” đến rợn cả tóc gáy, “so sánh thì tụi mật thám Pháp chúng nó còn nhân đạo hơn người kháng chiến đối xử với nhau như thế này nhiều.”

Xem thêm:   Đọc truyện ‘Con sáo của em tôi’

Lương đã có vợ và hai con, là người trí thức, đã đậu tú tài nhưng cam phận sống nơi miền quê, làm một thầy giáo làng, không bận tâm đến chính trị. Vì đứa con của Lương bị bệnh nặng, ở miền quê không đủ phương tiện chữa trị, lại thêm tình trạng chiến tranh, giặc bắn phá giết hại, nên Lương bàn với vợ tạm mang hai con về Huế ở với cha mẹ khoảng 3 tháng sau sẽ trở lại. Một mình, buồn và cô đơn, thỉnh thoảng Lương “lang thang ra bờ sông, xuống bến đò nhìn chỗ vợ con ra đi mấy tháng trước cho đỡ nhớ”, nhất là sau thời hạn ước hẹn 3 tháng chưa thấy vợ con quay lại. Sáng sớm mồng một Tết, Lương cũng ra bến đò, thì thấy tàu địch xuất hiện từ xa nên chàng phải lo chạy giặc. Chuyện chỉ có vậy, nhưng chàng bị nghi ngờ làm gián điệp chỉ điểm cho Pháp vào làng để càn quét, giết hại đồng bào. Do đó, Lương bị bắt nhốt vào trại Cải hối Tây Hạ, mang tội Việt gian và bị tuyên án tử hình.

Nhưng người Cộng sản gian manh, chuyên nghề ném đá giấu tay. Sau khi nghe đọc án tử hình, người ta cho Lương ký vào lá đơn xin Chủ tịch ân xá, tưởng như một hành động rất nhân từ. Ðêm hôm đó, họ để ngỏ cửa phòng giam, với ý đồ tạo cơ hội cho phạm nhân trốn. Lương đã bị dồn đến đường cùng, sập bẫy, đã chạy trốn nên bị bắn chết với lý do vượt ngục.

Cũng vậy, với Huỳnh và Trần. Biết Huỳnh bị đau tim nặng, cứ đến đêm là có lệnh của cấp trên gọi “làm việc”. Ðể rồi một đêm nọ trái tim anh đã ngừng đập khi có lệnh gọi. Họ giết Trần còn tinh vi hơn. Sau khi chị Hiếu, vợ Trần (đang mang thai) đã chết do tai nạn trên đường đến trại tù thăm chồng vào một ngày mưa gió, họ đã chôn chị ở cánh đồng làng Nguyệt bên kia sông nơi có một đồn Tây. Rồi Trần được trả tự do và anh đã chết dưới họng súng của giặc Pháp trong đêm giao thừa khi bơi sang bên kia sông để thăm mộ vợ con.

Xem thêm:   Phạm Ngọc Lư và một thuở Tuy Hòa

Vài ngày sau, một tờ báo của kháng chiến tỉnh Thừa Thiên đưa tin (dĩ nhiên là láo khoét):

“Thông cáo chính thức của Tỉnh bộ Thừa Thiên:

Nguyễn Trần, nguyên chủ nhiệm kiêm chủ bút báo Quân Ðội Nhân Dân, trước đây đã có hành động phản cách mạng, phản nhân dân, vừa được chính phủ khoan hồng phóng thích ra khỏi trại Cải hối Tây Hạ sau thời gian học tập cải huấn. Ðêm giao thừa rạng ngày mồng một Tết, tên Nguyễn Trần đã bỏ mạng trên cánh đồng làng Nguyệt vì giẫm phải mìn trong khi y đang tìm đường đi đến đồn Pháp gần đó để toan đầu hàng giặc.”

Tuy là một cuốn tiểu thuyết với nội dung chuyển tải nặng về phần chính trị nhưng lại là một cuốn sách với văn chương rất đẹp và thấm đẫm tính nhân văn. Mở bất cứ trang sách nào, ngay cả ở những đoạn buồn thảm nhất, ta cũng có thể dễ dàng tìm thấy.

“Hình ảnh Hiếu khi chiều hiện lên rõ rệt trong trí chàng, những người bạn tù mang nàng vào trại, khuôn mặt trắng bệch lấm láp bùn đất, miệng nàng khẽ hé mở như một tiếng van xin mơ hồ, hai mắt nhắm nghiền ướt đẫm, mái tóc xõa ra bết lại rũ xuống lòng thòng nhỏ giọt nước mưa, áo quần sũng nước dính bết vào người làm nổi lên cái bụng có thai căng phồng, tròn trĩnh; khi nhìn cái bụng đột nhiên một ý tưởng xẹt qua đầu Trần khiến tim chàng nhói lên sợ hãi. Chàng thấy hình thù cái bụng chửa của người yêu trông như một nấm mộ nhỏ. Giờ đây ý nghĩ ấy lại trở lại với chàng, như một tương quan kỳ bí về sự sinh và tử. Tại sao lại có cái hình thức giống nhau giữa con người khi sắp sinh ra được che chở bằng cái bụng của người mẹ trong hình thái một cái bầu tròn hình bán nguyệt với con người khi đi vào lòng đất được đánh dấu bằng một cái gò nổi cao lên cũng giống một cái hình bán nguyệt hay dưới bất cứ hình thức nào thì cũng thế. Những điều ấy nói gì đây, nó chứng tỏ gì trong cái khôn cùng của đời sống này?”

Hay:

“Cơn mưa đã dứt từ lâu, hơi nước trong không gian vẫn còn trĩu nặng, đâu đó những giọt tranh kêu tí tách, rời rạc, khiến chàng nhớ câu nói của Trường, một bạn tù, vào một ngày đi chặt cây trong rừng, thình lình trời đổ mưa… – Nghĩ cái thân phận của một hạt mưa còn long đong như thế huống hồ cái thân tù của anh em mình, nước từ suối đổ ra sông, từ sông ra biển, từ biển bốc thành hơi nước bay lên trời, thành mây bay lang thang, chán mới tụ lại thành giọt mưa rơi trên ngọn lá, từ ngọn lá rơi xuống mái hiên này, lượn qua lượn lại kéo dày kéo mỏng còn chán khó khăn mới rơi được xuống để thấm vào lòng đất. Khó lắm anh em ơi.”

Và:

Xem thêm:   Nhà văn Nguyễn Thị Thanh Sâm một người viết nữ ngoài vòng đai

“Trần tiếp tục đắm mình trong suy tưởng, trong khi cơn mưa vẫn nặng hạt. Quả thật nếu mọi sự việc trong đời đều do Trời sắp đặt thì Trời quả thật là một đại nghệ sĩ. Ðấng Toàn Năng phải thật là nghệ sĩ mới tạo nên được những cơ duyên mang lại cái tư cách kiêu bạc khiếp đảm đến thế kia nơi một gã thư sinh mặt trắng. Cuộc kháng chiến này đã biến đứa trẻ Việt Nam thành chiến sĩ anh hùng, chưa đủ, Thượng Ðế còn bắt người Việt Nam gánh chịu một thử thách đau thương vĩ đại, cuộc vật lộn cam go giữa con người thuần khiết Á đông gìn giữ giá trị chân tuyền của lẽ sống với con người tham vọng cùng những giấc mơ kỳ bí quái đản, nhưng đam mê dữ dằn khốc liệt của loài người.”

Gấp cuốn sách lại, tôi vẫn còn suy nghĩ và nuối tiếc. Ngày ấy, nếu tất cả mọi người hiểu rõ được Cộng sản là như thế nào, thì có lẽ chuyện buồn thảm nhất của lịch sử Việt Nam đã không xảy ra.

Có phải vậy không?

TTNM – 18-7-2021

Tham khảo

[1] Trần Thị Nguyệt Mai – Hành trình của Cõi Đá Vàng, TQBT số 51, tháng 4/2012.

Đã được đăng lại trên nhiều trang mạng.

[2] Nguyễn Đạt – Người ở đồn Kim Thạch

https://www.tienve.org/home/literature/viewLiterature.do?action=viewArtwork&artworkId=19855

[3] Nguyễn Đức Tùng – Nhà xưa có hoa mimosa vàng

https://www.vanchuongviet.org/index.php?comp=tacpham&action=detail&id=23233