Xuyên Trà là nhà thơ gốc Quảng Nam.

Tác phẩm của ông gồm: Thêm Một Đóa Hồ Nghi, Biển Đã Xanh Dâu, Tâm Khúc…

Xuyên Trà được nhiều bạn thơ, bạn văn yêu mến.

Phan Xuân Sinh phát biểu: Thơ Xuyên Trà phát tiết được một điều rất khinh bạc, rất cứng cỏi của người dân Quảng Nam. Nhà văn Nguyễn Thị Thảo An nhận định: Với những lời thơ chơn chất, phảng phất trong các thi phẩm của Xuyên Trà là tấm giương soi về dĩ vãng của một thời trùng trùng khắc nghiệt. Vượt lên cái nhìn về đời thường, mang âm hưởng của triết lý Đông Phương, tác giả đã đưa sự đau khổ của cuộc đời trở thành những hương vị ngọt ngào trong kiếp nhân sinh… Gần đây, ta thấy thơ Xuyên Trà chắt lọc hơn, ý tình sâu lắng, mang mang hồn thiên cổ lẫn u hoài hiện kiếp. Để cảm nhận sâu sắc ý thơ của Xuyên Trà, Trang Văn xin giới thiệu sau đây bài nhận định của nhà văn Đặng Ngọc Như hiện sống và dạy học ở Sài Gòn. NGUYỄN&Bạn Hữu

Đặng Ngọc Như

Nhà thơ Xuyên Trà có mấy câu thơ thật ý vị, vì qua đó đã tự giới thiệu tuổi tác, thân phận của mình:

Ta, con ngựa không hay

Sao mỗi ngày mỗi chướng?

Em hiền thục, ta một đời ngang bướng

Tội tình em, từ buổi theo về…

………

Ta, con ngựa sa cơ

Nhớ bóng cờ trận mạc

Hồn thiên cổ quay cuồng trong gió cát

Ai người xưa thấu được oan trường…?

( Năm Ngọ, nhớ tuổi đời)

Xuyên Trà cũng có những câu lục bát, đọc một lần là nhớ, thuộc, vì nó chạm vào được chỗ sâu kín nhất của tâm hồn con người:

Cảm ơn, từng tiếng mẹ ru

Cho con thức, giữa mịt mù trăm năm…

Hoặc những câu như sau:

Dẫu em tát cạn tình đầy

Vẫn nguyên: một bóng trăng gầy long lanh…

Nhà thơ Xuyên Trà

Anh ngồi tựa cửa ba sinh

Còn em như khách vô tình vãng lai…

 

Thôi rồi, tôi chẳng là tôi

Cũng như em, đã lần hồi mất, quên…

 

Lòng em bờ cát tinh khôi

Ta sông mấy nhánh tình bồi chỗ mô…?

Đối ngẫu, song đề, cặp bài trùng như một nguyên lý sinh đôi bẩm sinh. Đọc thơ Xuyên Trà không nắm được điều đó thì không vào cõi thơ, vũ trụ thơ của ông được (dĩ nhiên là chủ quan)

Mỗi nghệ sỹ đều có một gương mặt tinh thần, ở thơ Xuyên Trà gương mặt ấy hiện ra kiểu nhất quán, nghĩa là một bất khả phân ly giữa hai cực đối nhau:

Ánh trăng vỡ trên mặt ao xưa

Em tìm chi tháng ngày thơ ấu

Con chim lạ hót trong bờ giậu

Thuở yêu người ngọt giấc liêu trai…

Chỉ cần đọc 4 câu trên, ta đã thấy ở đây sự đồng hiện của cả một thế giới mà trong đó không phải, không chỉ mà là cả cùng lúc quá khứ-hiện tại-thực-mơ-ngoài-trong-ngọt-đắng-tan vỡ-liền lành…Và cái chính là người thơ đứng ở bờ nào trước hiện thực giáp ranh-hư ảo đó?

Ở cả hai…

Khi nào câu thơ đạt đến cái nghịch lý nghệ thuật mê hoặc đó thì thơ cũng đạt được sức cuốn hút lạ kỳ:

Lận đận một đời sức đâu còn đủ

Bơi ngược dòng tình níu áo giai nhân…?

Hay:

Em như cổ thụ trên đồi gió

Ngã xuống đời ta một bóng chiều

Hoặc:

Ta thân củi ướt mềm tro cũng lạnh

Không biết tình còn cháy được bao nhiêu…?

Tất nhiên, xác định tính song đề-đối ngẫu là xét tính đặc thù chỉ dấu cho cảm thụ. Từ đó mới thấy được cái hình thức có tính nội dung làm nên phong cách thơ.

Xem thêm:   Lang Thang Nghìn Dặm

Đây là chỗ Xuyên Trà vừa gần vừa khác với Tường Linh…

Qua các thi tập của Xuyên Trà, độc giả có thể tìm thấy nhiều bài, nhiều câu, bất chợt ở một khoảnh khắc nào đó buộc ta phải dừng lại vài giây, để sách xuống, đặt đôi kiếng trên bàn, liên tưởng, cảm nhận, nhìn về một cõi xa xăm nào đó để hình dung thân phận tha nhân của kiếp người, trong đó có chút ít niềm riêng, tâm sự của chính mình…? Hoặc nêu lên vài phản biện…

Trong giới hạn của bài viết, tôi chỉ xin đơn cử một vài câu:

Ta con hến ngậm tình xa xứ

Khi chết rồi mới mở miệng ra…

Trong tập Những Bài Thơ Muộn có bài Di Ngôn vỏn vẹn chỉ có 4 câu lục bát khiến ta phải trầm ngâm:

Mười năm-chưa cuộc tình tròn

Miên canh-cõi tịch-đầu non-nguyệt chờ

Mai về dựng núi đề thơ

Mượn mây ngũ sắc lập tờ: di ngôn…

Hoặc:

Dẫu mai chết ở quê người, an phận

Bóng đầu non sương trắng ngậm ngùi bay

Trên cuộc lữ cái không chờ cũng đến

Mộng bên trời chưa trọn-chỉ tình hay…

(An Phận trong tập Tình khúc buổi hoàng hôn)

Nhạc sỹ, nhà thơ Đynh Trầm Ca: Cùng quê, bạn học với Xuyên Trà thời niên thiếu đã có những nhận xét vô cùng thú vị như sau:

“Tuổi nhỏ, Xuyên Trà bắn bi bằng tay trái, rất chính xác. Nay Xuyên Trà làm thơ chắc cũng tay trái, cũng rất chính xác vào trái tim người đọc. Những câu thơ long lanh như những viên bi đầy màu sắc. Đường bay của thơ cũng đẹp như những đường bi anh bắn (cùng tôi) ở cái thị trấn nhỏ bé ngày nào. Tôi hiểu, vì đâu thơ anh đau đáu một quê nhà, dù (biển đã xanh dâu…)”

Nhà văn nữ Nguyễn Thị Thảo An ở Georgia, USA còn có nhận định khác: “Vượt lên cái nhìn về đời thường, mang âm hưởng của triết lý Đông phương, tác giả đã đưa sự khổ đau của cuộc đời trở thành những hương vị ngọt ngào trong kiếp nhân sinh…”

Thử đọc một vài bài thơ của Xuyên Trà:

Rất cần thiết, những điều không cần thiết

Rất cần thiết, những điều không cần thiết

Ta loài chim vẫn chọn một phương trời

Cất tiếng hót không hồ nghi bất trắc

Xoải cánh chiều trong gió lộng ngàn khơi

Rất cần thiết, những điều không cần thiết

Đất nơi nào làm tên gọi quê hương

Khi ta chết đầu sẽ quay về núi

Khóc than chi? Thêm một khúc đoạn trường

Rất cần thiết, những điều không cần thiết

Bởi tình yêu như tia chớp nhiệm mầu

Ta cất giữ những cuồng si trọn kiếp

Đừng hỏi tình ngọn lửa cháy từ đâu…

Rất cần thiết, những điều không cần thiết

Vẫn ngàn năm sóng nước vỗ chân cầu

Em sẽ hiểu trái tim đầy bí ẩn

Đừng hỏi tình ngọn lửa cháy từ đâu…

Hạt mê

Chân đi lòng cũng ngại ngần

Mai sau cách biệt không gần nhà em

Ăn quen có lúc lại thèm

Mùi hương thạch nhũ những đêm hẹn hò

Tiếc thầm những cái trời cho

Nhớ ai như nhớ cộng ngò vườn quê

Thơm lây một lối đi về

Từ trong lòng đất hạt mê trẩy mầm…

Và sau đây phân tích đôi bài thơ tiêu biểu:

Rượu nói giùm ta

Rượu đã trắng đâu cần chi cốc bạc

Chén hay ly thù tạc cũng quen rồi

Vá áo phong trần tình treo đỉnh núi

Đợi gió em về gởi cánh mây trôi…

Đêm thức trắng ai khóc thầm chuyện kể

Mùa ly tan dâu bể bốn phương trời

Ta quá chén, ngửa mặt cười kiêu bạc

Chút danh hờ trôi tấp bến ngàn khơi

Tóc đã trắng bận lòng chi hồ thỉ

Chén rượu mời nhân nghĩa vỗ về nhau

Cõi nhân sinh chưa một lần luân lạc

Sao biết đời thương cảm những niềm đau

Mây cũng trắng như ngày xưa cố quận

Gió muôn chiều hôm sớm biết về đâu

Sao cứ mãi một đời ta lận đận

Quảy trên vai chung thủy mấy lượng sầu

Tay vẫn trắng không còn gì để mất

Tháng tận năm cùng chẳng ở quê cha

Em đâu biết, ta cầm lòng không đậu

Nước mắt trào, chắc rượu nói giùm ta…

Giọt rượu-giọt từ tâm

Xem thêm:   Tưởng nhớ Cung Tích Biền - đọc ‘Đành Lòng Sống Trong phòng Đợi Của Lịch Sử’

Tôi có được may mắn đọc thơ Xuyên Trà lúc thơ anh còn ở lứa tuổi đôi mươi đến lúc thơ anh ở độ lục tuần, nhất là khi đọc những bài thơ đã xuất bản gần đây, tôi nhận ra hồn thơ ấy dần chín, không phải trái sầu từ mầm đắng hay vị thơm quả cấm mà là cái vị ngoại vị, sắc vô sắc của biện chứng thi thiền. Vị ấy, sắc ấy càng đậm đà ở bài: Rượu Nói Giùm Ta.

Cụ Nguyễn Du có 2 câu về rượu đọc mà thấm thía:

Sinh tiền bất tận tôn trung tửu

Tử hậu thùy kiêu mộ thượng bôi

(Sống mà rượu chẳng cạn hồ

Thác thời rượu viếng dưới mồ ai chan)

Thấm thía vì lẽ sống chết, tửu ý, tửu đức trong giao tình của người đời.

Bài thơ: Rượu Nói Giùm Ta dài 5 khổ, tuyền một sắc trắng trải ra lần lượt chuỗi tục lụy như từng uẩn trong ngũ uẩn để rồi đọng lại một sắc hư không…

Tôi đọc bài thơ nầy ít nhất là 5 lần. Đọc để nhận ra cái không nhầm lẫn, cái không tránh đi đâu được (inevitable) để rồi từ ngạc nhiên đi đến lạ lẫm.

Thử đọc bài thơ theo mạch thứ nhất, mạch nổi.

Nhà phê bình dày dạn E.Hirsch từng khuyến khích: Đọc lúc nửa đêm, hãy vặn nhỏ ngọn đèn khi không có ai hoặc ai đó bên cạnh đã ngủ say. “Hãy để hết tâm trí lắng nghe, vì chú ý lắng nghe là lời cầu nguyện tự nhiên của linh hồn”.

Ta sẽ nhập vào tâm thức của người uống rượu, không phải vì rượu, mà để “quán tửu” như lòng từ tâm và ánh mắt bao la của một vị Bồ Tát.

Toàn bộ 5 khổ thơ toát lên một sắc trắng lạ lùng của vô sắc, níu kéo lòng ta qua từng câu, chữ. Bởi (không màu) nên (cũng mãi không phai)

Màu trắng là màu của năng lượng, “sức nóng trắng” màu của sáng tạo, lãng mạn, phôi pha như sắc rượu, chất rượu được chưng cất từ đất trời. Màu của thao thức “đêm trắng”, màu của quê nhà “mây trắng”, của sự nghiệp “tay trắng”, của sinh lão “tóc trắng”. Trắng là xóa, xóa đi tất cả, ngỡ như chẳng còn lại chút gì…Nâng ly rượu trên tay như chạm vào màu lạnh lẽo “trắng bạc”, nhìn lên “tóc trắng” đã hết rồi hồ thỉ, xa rời cố quận, câu chuyện đời tạm dừng và cuối cùng bàn “tay trắng” là chút danh hờ…! Năm khổ thơ như một tiếng thở dài đầy tâm sự, có vẻ như muốn phủ nhận tất cả? Nhưng bài thơ không chỉ có thế. Màu trắng là ký chú có tính nhân loại, từ lâu đời đã trở thành niềm trắc ẩn nhân thế. Nữ thi sỹ Hoa Kỳ là Emily Dickinson vận cuối đời chiếc váy trắng, vừa là phục trang vừa như màu điểm trang chiếc thẻ bài riêng mình để đi vào ngôi nhà thi ca dân tộc như một niềm kinh hãi, ám ảnh…

Xem thêm:   Đọc ‘Ngoại Ô, Dĩ An và Linh Hồn Tôi’ của Cung Tích Biền

Thi ca Việt Nam còn có một Hàn Mặc Tử với “dòng sông trắng nắng chang chang”, hay “áo em trắng quá nhìn không ra”. Có thể không kể hết với áo trắng của Huy Cận, Nguyên Sa, Kiên Giang, Nguyễn Bính…Hơn thế nữa, văn đàn còn dậy lên những cuộc tranh luận triền miên về (Hai Sắc Hoa Tigon) của TTKH:

Cho nên cười đáp màu hoa trắng

Là chút lòng trong chẳng biến suy

Màu trắng trong thơ, trong những bài đích thực tồn tại như hai cực biên của tướng và tính trong đạo, vừa vô thường vừa vô ngã, khuấy động tâm tư người đọc khôn nguôi, cho nên tửu lượng có chừng mà tửu ý lại chẳng ngừng.

Mạch thứ 2 của bài thơ: Mạch ngầm

Đây mới là màu trắng của tuệ giác. Đây cũng là khuôn gương tinh thần đích thực của bài thơ để ta đọc nó. Như Whitman: giữa khuya, lúc mà dường như nghệ thuật đã cạn, kinh sách đã buông, bài học đã thành, thì bài thơ hoàn nguyên một sắc trắng chân không…Cho nên:

Em đâu biết ta cầm lòng không đậu

Nước mắt trào chắc rượu nói giùm ta…

Ta (cầm lòng không đậu) nhưng thuyền thơ đã kịp cập bến nhân gian và kìa còn nguyên đó một cõi thế để đi,về…

Nhưng “tâm-vật” nhất thể kia mà. Mạch ngầm là chân nguyên. Vì còn nguyên đó quê cha vẫn mây trắng trời cố quận, còn đó chiếc áo phong trần in dấu vá, thù tạc vốn đã quen, còn đó hồ thỉ để bận lòng, còn đó nhân nghĩa để vỗ về nhau và nỗi luân lạc để bận lòng, thương cảm, còn đó mấy lượng sầu đã quẩy trên vai hay còn đó nước mắt trào giữa tiếng cười kiêu bạc…

Tất cả vẫn còn vì còn câu chuyện kể, chưa dứt về một kiếp người, làm người đến tận cùng…

Rốt lại, nhận thức có được như một bậc chân tu, người ta không thể mất cái không có: Sắc tức thị không. Đó cũng là cách nhìn rốt ráo của Phật gia, ta không cảm thấy có, tay vẫn trắng, nên ngộ, vô ưu, thế thôi…

Bài thơ: Rượu Nói Giùm Ta, có giọng lạ, phảng phất chút trầm uất nhân thế, nhưng mạch chính vẫn là: Tuy tục lụy mà thoát tục, tuy gợn nỗi đau thân thế, thời thế nhưng vẫn đạt đến độ trong trẻo, bởi vì: “mạch-ngầm-nước-giếng-không-sinh-sóng…”

Mạch nổi, mạch ngầm của bài thơ chảy xoắn xuýt vào nhau. Tuy hai mà một. Nghịch lý nghệ thuật là nghịch lý mê hoặc:

Không tức thị sắc. Bài thơ bắt đầu bằng sắc trắng của rượu, kết thúc bằng sắc trong nước mắt. Trắng và trong, xốn xang và tĩnh lặng. Nước mắt cứu rỗi… Giọt lệ từ bi…

Viết đến đây, tôi chợt nhớ đến mấy câu thơ của Xuyên Trà viết trong tập “Thêm, Một Đóa Hồ Nghi”:

Ra ngồi giữa nắng chang chang

Thân, tâm định huệ hai hàng sủi tăm

Đã mờ con mắt đăm đăm

Chùa xa vẳng khúc tịnh rằm thọ trai…

Nghệ thuật cũng chính là đạo khi con người tự tìm ra lối giải thoát cho chính mình…

ĐNN – Sài Gòn Tháng Tư/2024