Một lần, đi bộ lơn tơn trên đường Trần Hưng Đạo – quận 5, tôi vô tình nhìn vào con hẻm số 472 mà phía trước có vài xe bán hàng ăn, tôi thấy có một ngôi nhà cổ nhỏ khá gợi tò mò. Tôi đi vào bên trong. Có 3 ngôi mộ. Nơi đây cách nhà mộ của Trương Vĩnh Ký (520 Trần Hưng Đạo) khoảng 100m, tuy nhiên trông có vẻ bề thế, cổ kính hơn.

Hẻm 472 Trần Hưng Đạo, Q 5
Những thực khách đang ăn uống hay người trong hẻm ngồi thong thả chuyện trò, có vẻ họ quá quen thuộc với sự hiếu kỳ của nhiều người đã đến đây.
Đó là một ngôi nhà mộ cổ với lối kiến trúc khá độc đáo, kiểu mái vòm Tây phương cổ điển. Trên nóc nhà mồ có cây thánh giá, chung quanh có những cột hình tháp bút cao thẳng, những bó dây diện giăng ngang dọc khiến cho ngôi nhà mộ giảm bớt sự uy nghiêm và hơi luộm thuộm. Những phù điêu đắp nổi hình hoa lá trên mái vòm, trên cửa chính hai bên nóc hông và trên đầu các cột xi măng. Hôm ấy, nhìn vào bên trong tôi thấy nhiều vật dụng để lộn xộn và có một chiếc xe đạp dựng bên cạnh ngôi mộ chính giữa. Trên bàn thờ có di ảnh hai người mà tôi đoán là hai vợ chồng. Phía trước bàn thờ có tượng các Thiên thần, các Thánh… Thời gian phủ lên mọi thứ một lớp bụi dày, lấm lem màu cũ kỹ…

Những cột hình tháp bút
Theo các tài liệu, ngôi nhà mồ được xây dựng năm 1914 trên một khoảnh đất rộng chừng 40m2. Cổng chính có đắp dòng chữ Latinh trích từ Kinh thánh “Beati Mortui Qui in Domino Moriuntur” (Phúc thay những ai được chết trong vòng tay Chúa)… Trong nhà mồ có 3 ngôi mộ đá nằm song song. Không có bia, nhưng trên các ngôi mộ có những câu mang ý nghĩa tôn giáo được chạm khắc trực tiếp lên mặt mộ. Mộ bên phải là chủ nhân ngôi nhà mồ ghi: “Dominique-Thomas Trịnh Khánh Tấn, Tri huyện. Nằm huyệt này, chờ ngày sống lại hiển vinh. Sinh năm 1856. Qua đời ngày 23 Janvier 1913. Nguyện cho người này lên chốn nghỉ ngơi”. Mộ bên trái ghi: “Bà huyện Anna Lê Thị Gương. Sinh năm 1862. Qua đời ngày 10 Octobre 1922”. Hai ngôi mộ được xây bằng đá trắng, hình hộp, cao hơn 1m. Ở giữa là mộ người con gái của họ, tên Matta Trịnh Thị Tiết (sinh năm 1880, mất năm 1948, thọ 68 tuổi), màu đá đen và thấp hơn mộ song thân.
Từ ngôi mộ cho biết ông Trịnh Khánh Tấn là người theo đạo Công giáo, và có một vị trí quan trọng trong cộng đồng tôn giáo địa phương.

Bên trong nhà mộ
Ông Trịnh Khánh Tấn là ai?
Cũng theo tài liệu, người đời chỉ biết rằng ông là một viên chức được tín nhiệm và làm việc cho chính quyền Pháp (ở Nam kỳ), là Tri Huyện Honoraire (Tri Huyện Danh Dự).
Thông qua bi ký, người ta biết được ông sinh năm 1856 mất 1913. Như vậy khi ông lớn lên, người Pháp đã thiết lập hệ thống quyền lực khá vững chắc tại vùng Sài Gòn – Chợ Lớn.
Tư liệu từ trang web Thư viện lời chúa & thư viện sách quý cho biết ông từng soạn các sách giáo huấn nam nữ thanh niên “Học tập quy chánh” và “Can thường lược luận”, khuyên răn đạo đức theo một mẫu mực Á Đông truyền thống và sống theo Kinh Thánh… Ông Trịnh Khánh Tấn là một người tinh thông cổ học và hành xử như một người Á Đông mẫu mực, tiếp nhận cái mới nhưng vẫn trăn trở về giáo dục và truyền bá những điều hay về đạo Công Giáo.

Toàn cảnh
Cuốn sách Học tập qui chánh
Được viết bằng thể thơ lục bát (chữ quốc ngữ) với 1,850 câu đơn giản, dễ nhớ.
Trong phần Dẫn tác giả ghi: “Sách này in ra để cho con trẻ, em Nam, Nữ, các trường Việt ngữ trong các họ, hay là những trường sơ học, tập đọc, viết cho trúng tiếng Việt Nam ta, và dạy nó phép tắc nết na, khi còn nhỏ, hầu sau nó mới nên học tiếng ngoại quốc cùng phép tắc nước người. Vậy những con trẻ nào học sách này, hay là coi mà biết chuộng sự lành, lánh điều dữ, làm việc phải, tránh đàng quấy, nên trai hiền từ, xứng gái đức hạnh, cho thông đạo lý, lo mà thờ phượng Đấng Tạo Thành vạn vật, ở hết lòng khiêm nhượng, hiếu thảo với cha mẹ, ra sức học lễ nghi, gắng công tập chữ nghĩa, biết làm ăn chín chắn, ở đời với người ta, đến khi sau khôn lớn, học thêm, đặng mà giữ gìn giềng mối trong ngoài, cho khỏi sự nghèo nàn khốn cực, đã được nên tiếng tốt, lại thơm danh cha mẹ, thì cuốn này rất có ích biết là chừng nào?
Trong sách này không phải là sách dạy cao kỳ nghĩa lý gì, nhưng mà làm thiệt là dày công lắm.
Chợ Quán, ngày 15 tháng ba âm lịch 1909
ĐOMINIQUE-THOMAS TRỊNH KHÁNH TẤN TRI HUYỆN HONORAIRE”
Cũng theo các tài liệu, sách được soạn vào năm 1909 nhưng đến 1.7.1921 mới được xuất bản tại Nhà in Nhà Chung (de la Mision Sài Gòn – Tân Định – đây là nhà in Công giáo xưa nhất, hoạt động từ năm 1865 đến năm 1943). Trước đó, năm 1914, sau khi ông mất 1 năm, Nhà in Nhà Chung cũng đã in cuốn Cang thường lược luận của ông. Đây là quyển sách giáo huấn thanh niên nam nữ được nhiều người đương thời khen tặng.
Cuốn sách có 33 mục, với những tiêu đề như: Trẻ nhờ trường học thế nào, Học vần, Tập viết – Phép toán, Dạy khuôn phép trong trường, Lễ nghi: về sạch sẽ, Ở nhà ăn ở cho phải phép, Anh em hòa thuận yêu nhau, Bổn phận con cái lành, Thảo kính thương yêu cha mẹ, Truyện Á thánh Gẫm, Cầu xin Thánh Antôn, Con gái phải biết mua, biết nấu, biết giữ đồ ăn…

Mộ bà

Mộ con gái chính giữa

Mộ ông
Trích vài đoạn trong Học tập qui chánh
– Ngọc lành vì bởi giũa trơn,
Hễ người dốt nát nguồn cơn biết gì?
Nhỏ thì phải học lễ nghi ,
Nếu không ai dạy, lớn thì sao nên?
Trẻ thơ tánh hãy còn mềm,
Dễ in, dễ khiến, dẫu quên còn dằm.
– Dạy con kính Chúa thượng toà,
Sau khuyên yêu mến khắp mà người ta.
Bảy phép Bí tích lập ra,
Dấu ơn chỉ tỏ cao xa nhiệm mầu.
– Lạy Cha, con đọc mỗi ngày,
Chúng tôi thờ Chúa, xin rày Chúa thương.
Hằng ngày khẩn nguyện lo lường
Phần hồn, phần xác, khỏi đường gian nan
– Viết thì phải nhắm cho ngay,
Đừng xiên, đừng xẹo, đừng dày, đừng thưa
Sách con sạch sẽ thầy ưa,
Tập kia, giấy nọ, lọc lừa kĩ cang.
Dơ thì thầy thật không màng,
Ngó qua tập giấy, chữ quàng chữ xiên.
– Bây giờ tới sự về nhà,
Làm sao cho khỏi người ta chê cười.
Ra đi tránh kẻo đụng người:
Đừng điều xô đẩy, dể ngươi lời thầy;
Cũng đừng vô phép la, rầy,
Thách nhau đánh lộn, mà gây dọc đàng.
Xin con giữ sự bằng an,
Một đều thương mến, thuận hoà cùng nhau.
– Nói năng chào hỏi, kính nhường
Ở cho phải cách yêu thương mọi người.
Đừng điều nhạo báng chê cười,
Thấy nghèo khinh dể, vui chơi người giàu.
Đừng làm bộ tịch lau chau,
Khi vui, vui quá, buồn sầu ủ ê.

Dòng chữ phía trước nhà mồ
Hơn một thế kỷ, những lời dạy trên có thể không còn hợp thời nữa nhưng ngẫm lại để thấy cái “gốc” văn hóa và giáo dục là quan trọng. Người Việt xưa có một nền tảng giáo dục căn bản làm người, nền móng vững chắc từ giáo dục, văn hóa. Cho dù xã hội phát triển thế nào thì cái tâm tính thiện, làm lành lánh dữ, kính trên nhường dưới và lời cầu nguyện hàng ngày vẫn là cơ sở, gốc rễ, điểm tựa vững chắc cho sự phát triển.
ĐTTT
(Tổng hợp từ nhiều nguồn tư liệu)







