Một phần trong thỏa thuận hòa bình giữa Hoa Kỳ và Iran được ký kết vào trung tuần tháng 6 vừa qua là mở lại eo biển Hormuz và việc này giúp làm giảm bớt cuộc khủng hoảng năng lượng vốn đã kìm hãm đà tăng trưởng kinh tế và phần nào khiến lạm phát gia tăng trên toàn cầu.

Tuy nhiên, một điều bất ngờ trong suốt nhiều tháng đóng cửa tuyến đường huyết mạch về năng lượng quan trọng nhất Trung Đông này là nền kinh tế toàn cầu đã không bị rơi vào tình trạng quá nghiêm trọng như nhiều người tiên đoán. Những tác động tiêu cực thì có nhưng không diễn ra quá nhanh hay dữ dội như so với thời điểm Nga xâm lăng Ukraine năm 2022, hay như cuộc khủng hoảng dầu hỏa từng làm chao đảo thế giới vào thập niên 1970.

Có nhiều lý do nhưng một vài lý do nổi bật khiến nền kinh tế toàn cầu tuy có chậm lại đôi chút nhưng không rơi vào suy trầm do từ ảnh hưởng của cuộc khủng hoàng Hormuz.

Có chuẩn bị

Khi cuộc khủng hoảng tại eo biển Hormuz nổ ra, thế giới có khá nhiều dầu trong các kho dự trữ. Các quốc gia nhập cảng dầu quan trọng tại châu Âu và châu Á đã tích trữ được lượng dự trữ chiến lược đáng kể, đồng thời kho dự trữ dành cho thương mại cũng ở mức cao sau khi mua vào một số lượng dầu khá nhiều trong năm 2025. Điều này mang lại một khoảng thời gian an toàn giúp nhiều nền kinh tế lớn vượt qua được cú sốc ban đầu và chỉ chịu tình trạng gián đoạn sản xuất ở mức hạn chế.

Tại Vương quốc Anh, doanh số bán nhiên liệu sụt giảm trong tháng 4 do người dân hạn chế lái xe. Một số hãng hàng không châu Âu và Hoa Kỳ cắt giảm lịch trình bay để ứng phó với giá xăng máy bay tăng cao. Tại Nhật Bản, một nhà sản xuất đồ ăn nhẹ đã chuyển sang sử dụng bao bì đen trắng cho một số sản phẩm do tình trạng thiếu hụt loại mực in có nguồn gốc từ dầu hỏa.

Gánh nặng của tình trạng khan hiếm dầu đè nặng hơn lên các quốc gia nghèo, là những nước không đủ khả năng tài chính để có được kho dự trữ dầu dồi dào. Một số quốc gia như Bangladesh và Sri Lanka đã thực hiện các biện pháp kiềm chế nhu cầu dầu thông qua việc phân phối nhiên liệu theo định mức. Một số quốc gia khác thì đóng cửa trường học, văn phòng và hạn chế sử dụng máy điều hòa không khí.

Xem thêm:   Nghề đi củi

Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) cho biết nhu cầu dầu toàn cầu ước tính sẽ giảm khoảng 5%, tương đương gần 5 triệu thùng mỗi ngày, trong quý hai năm nay. Mức giảm này thấp hơn nhiều so với mức sụt giảm khoảng 10% nhu cầu dầu từng ghi nhận trong cuộc chiến tranh Iran-Iraq (bắt đầu năm 1980), lệnh ngưng xuất cảng dầu của các quốc gia Ả Rập năm 1973 và cuộc khủng hoảng kênh đào Suez năm 1956; điều này cho thấy tình trạng thiếu hụt dầu hiện nay dễ kiểm soát hơn so với trước đây.

Thích nghi nhanh

Nỗi lo ngại rằng cuộc khủng hoảng eo biển Hormuz sẽ đẩy giá dầu lên mức $150 hay thậm chí $200 một thùng đã không xảy ra. Các quốc gia sản xuất năng lượng tại Trung Đông đã tìm ra giải pháp thay thế cho việc đóng cửa eo biển này nhanh hơn dự báo của nhiều chuyên gia, trong khi các quốc gia sản xuất khác – bao gồm cả Hoa Kỳ – đã đẩy mạnh việc khai thác và xuất cảng để bù đắp một phần thiếu hụt trong nguồn cung.

Theo dữ liệu từ Kpler – công ty cung cấp thông tin về hàng hóa và vận chuyển đường biển – lượng dầu xuất cảng từ cảng Yanbu của Ả Rập Saudi ở phía Hồng Hải đã tăng vọt lên khoảng 4 triệu thùng mỗi ngày, so với mức dưới 1 triệu thùng trước khi xung đột nổ ra. Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (UAE) cũng chuyển hướng sang xuất cảng qua đường ống, vận chuyển dầu thô từ Abu Dhabi đến cảng Fujairah nằm bên vịnh Oman.

Trong khi đó, xuất cảng dầu của Hoa Kỳ cũng tăng mạnh, chạm các mốc kỷ lục mới. Theo Kpler, xuất cảng dầu của Venezuela tăng 43% trong quý hai so với cùng thời kỳ năm ngoái, còn lượng xuất cảng của Brazil cũng tăng thêm một phần ba.

Xem thêm:   Nỗi ám ảnh của Putin

Trung Quốc giảm bớt lệ thuộc dầu nhập cảng

Lượng dầu nhập cảng của Trung Quốc giảm khoảng ba triệu thùng mỗi ngày, song hầu như không thấy dấu hiệu gián đoạn rõ rệt nào của nền kinh tế lớn thứ hai và là quốc gia sản xuất hàng hóa đứng đầu thế giới này.

Giống như các quốc gia nhập cảng dầu quan trọng khác, Bắc Kinh đã sử dụng nguồn dự trữ chiến lược khổng lồ của họ và tìm kiếm các nguồn cung cấp khác để bù đắp cho sự thiếu hụt nguồn cung từ eo biển Hormuz.

Do nhận thức rõ sự lệ thuộc quá nhiều vào năng lượng nước ngoài, Trung Quốc cũng đã định hướng lại nền kinh tế của họ để giảm tiêu thụ dầu nhập cảng: hoạt động sản xuất điện ngày càng dựa vào than đá và năng lượng tái tạo, trong khi người dân trong nước cũng tích cực chuyển sang sử dụng xe chạy điện, qua đó giúp giảm nhu cầu về xăng dầu.

Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng eo biển Hormuz không phải là không gây tổn thất cho Trung Quốc – chi phí cho việc sản xuất tăng vọt và mức tiêu xài của người dân sụt giảm mạnh trong tháng 5.

Sử dụng năng lượng hiệu quả hơn

Một điều nữa là việc cải thiện sự hiệu quả trong việc sử dụng năng lượng cũng góp phần làm giảm bớt tác động xấu từ tình trạng thiếu hụt năng lượng liên quan đến cuộc chiến ở Iran.

Một cách để đánh giá mức độ hiệu quả trong việc sử dụng năng lượng của các nền kinh tế là làm một phép tính về lượng năng lượng tiêu thụ để tạo ra sản phẩm. Theo dữ liệu của Ngân hàng Thế giới, sau khi điều chỉnh theo lạm phát, mức năng lượng dùng để tạo ra sản phẩm tại Hoa Kỳ và châu Âu đã giảm khoảng 1/3 kể từ năm 2000, trong khi con số này ở Trung Quốc là khoảng 40%; sự thay đổi này giúp các nền kinh tế chịu đựng được tốt hơn trước tình trạng bị gián đoạn nguồn cung.

Xem thêm:   Mùa Xuân nhớ ngoại

Các nền kinh tế đã phát triển từ nhiều năm qua đã dần chuyển đổi từ hoạt động sản xuất cần nhiều năng lượng sang các ngành dịch vụ ít phải sử dụng năng lượng hơn, chẳng hạn như tài chính và y tế. Năng lượng tái tạo cũng đóng một vai trò quan trọng, bởi các nguồn như điện mặt trời và điện gió ít bị thất thoát do nhiệt gây ra hơn so với nguồn nhiên liệu hóa thạch. Các thiết bị gia dụng cũng đã được cải tiến để tiêu thụ ít điện hơn, đồng thời các doanh nghiệp cũng nỗ lực tối ưu hóa quy trình sản xuất nhằm tiết kiệm năng lượng – một bài học mà châu Âu đặc biệt chú trọng sau khi Nga xâm lăng Ukraine vào năm 2022.

Và… nhờ bùng phát AI

Sự bùng nổ của AI trở thành lực đối trọng quan trọng trước cuộc khủng hoảng năng lượng. Việc các trung tâm dữ liệu xây dựng khắp nơi tại Hoa Kỳ cùng với sự lạc quan về tiềm năng của ngành kỹ thuật mới này đã thúc đẩy hoạt động thương mại, đầu tư và đẩy thị trường chứng khoán lên mức cao kỷ lục.

Được hưởng lợi rõ rệt nhất là tại các nền kinh tế châu Á – nơi cung cấp các chip bộ nhớ, máy móc và thiết bị điện tử cần thiết cho các hoạt động nghiên cứu và phát triển AI. Trị giá xuất cảng của Đài Loan tăng hơn gấp đôi kể từ đầu năm 2025. Xuất cảng của Nam Hàn tăng gần 80%, Singapore tăng 40% và Nhật Bản tăng gần 20%. Cơn sốt của ngành kỹ thuật mới này đã tạo đà phát triển cho các khu vực chủ chốt của nền kinh tế toàn cầu, ngay cả khi tình trạng thắt chặt nguồn cung dầu hỏa gây thiệt hại cho những khu vực khác.

Bài học vượt qua cuộc khủng hoảng eo biển Hormuz lần này là một kinh nghiệm quý giá để học hỏi và để biết cách đối đầu với các cuộc khủng hoảng trong tương lai.

VH