“…Chỉ là những câu chuyện vụn vặt được chắp nối qua những mảnh đời dân quê miệt kinh rạch hầu san sẻ cùng bạn trẻ, những người chưa hoặc không có dịp sống gần gũi với dân ruộng về các miền kinh rạch ấy như một nét đặc thù của văn minh Việt bên cạnh một nếp “văn minh miệt vườn” khá sung túc, trù phú…” (Hai Trầu Lương Thư Trung).
Luôn tự nhận mình là một “người nhà quê”, nhưng ai cũng hiểu là cách nói khiêm cung của một học giả, kiến thức quảng bác, như bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc trìu mến nhận định “Nó là văn chương miệt vườn. Sau này muốn biết về miền Nam mưa nắng hai mùa ra sao thì phải đọc Sơn Nam và Hai Trầu thôi.”.
Mời bạn cùng chúng tôi dạo chơi cùng mưa nắng miền Nam…

(tiếp theo)
Ngài hỏi tiếp:
– Thế nào “cũng” thấy, “cũng” chẳng thấy?
Tổ bảo:
– Ta thấy là thường thấy lỗi lầm nơi tâm mình, không thấy việc phải quấy của người khác. Ấy là “cũng” thấy, “cũng” chẳng thấy.
Lục Tổ hỏi:
– Ngươi nói “cũng” đau, “cũng” chẳng đau là sao? Nếu ngươi chẳng đau thì đồng với cây cỏ, nếu ngươi nói đau thì đồng với phàm phu ắt khởi tâm giận hờn… Ngươi không thấy tự tánh mà dám cợt với người.
Sau khi nghe ngài Lục Tổ Huệ Năng nói vậy, ngài Thần Hội lễ bái hơn trăm lạy, cầu xin sám hối. Từ đây Sư ở lại hầu hạ Tổ không lúc nào rời.”(*)
Chú Tám sắp nhỏ,
Bàn với chú về chữ “cũng” là bàn về cái ý nghĩa của người dùng nó cho vui, chứ thiệt tình ra tự căn gốc nó, chữ “cũng” không có tội tình gì hết chú Tám à. Nó cũng như mình thôi, nghĩa là lúc nào mình cũng là dân ruộng làm ra gạo lúa cho đời nhưng bù lại mình bị nhiều người cứ chê mình quê dốt vậy mà. Thôi đành chịu vậy chứ trách ai bây giờ. Phải vậy hông chú Tám?
Việc đời khó. Mà ở nhà quê này, việc đời càng khó hơn. Số là nếu chú mở rộng cửa chùa, chắc gì quỷ ma không ùa vô theo người đi chùa cúng Phật. Mà chú khoá cổng chùa, chẳng khác nào chú lên núi chú tu. Thế cho nên, nhiều bận tui muốn lên núi Ba Thê ở một mình cho cái lòng bớt phiền não chú Tám à! Chứ nay tui già rồi, mà tâm còn nhiều ô trược quá, e đời sau nặng gánh nợ nần… Đêm đêm tui thường ngồi một mình nghe tiếng vạc ăn đêm dìa bay ngang vườn tre mà nghĩ lại nhiều cái mình còn dở quá nghe chú. Dở không phải mình không biết; mà chính vì mình biết rồi nên mới biết mình còn dở ẹt là cái đau!
Thành ra, hôm trước đây, nhằm ngày sinh nhựt của tui, tui mới nhận được một cái thơ của một người mình tưởng là mình biết rành người đó, nhưng dù tuổi già có chút ít nghe và biết, nhưng chỉ nghe và biết vậy thôi, chứ chẳng thấm thía gì với cái bao la của lòng người, của càn khôn, của vũ trụ qua lá thơ đó. Lúc đó, tui mới tâm đắc lại lời đối đáp của thiền sư Thần Hội và Lục Tổ Huệ Năng về “cũng thấy, cũng chẳng thấy”, “cũng đau, cũng chẳng đau”. Và cũng từ bữa đó tới nay, nói thiệt với chú tui muốn dìa Ba Thê mà nghe đá nói chuyện đời cho bớt sợ, bớt chán đời!!!
Lá thư kỳ này viết cho chú khá dài là cũng vì cái hỏi của chú quá thâm thúy mà nói ngắn cũng không ngắn hơn được, đành phải lòng vòng có trước có sau. Nhưng cũng không quên nói qua một chút về mùa màng cho chú biết tình cảnh của tui và bà con kinh xáng. Ruộng năm này nắng hạn, trời nóng, bơm nước lên đồng cũng cực và tốn kém không ít, nhưng tui và sắp nhỏ ở đây còn nước còn tát nổi, chú đừng bận tâm cho tui nơi kinh xáng này, mà hãy dồn hết cái lo cho sức khoẻ của chú bên bển, xứ người xa diệu vợi biết kêu hú ai khi tối lửa tắt đèn. Còn bịnh cúm gà cũng có lai rai và sắp nhỏ cũng bị lỗ lã bộn bộn. Tui có nuôi năm ba con gà để phòng khi có khách và nghe tiếng gà gáy ban trưa cho vui, nên còn cũng tốt, mà rủi có chết hết cũng không sao vì trên trời còn có tiếng vạc, trong vườn còn có tiếng chim, tiếng cu, ngoài đồng còn có tiếng cúm núm, le le, nên cũng còn cái chất nhà quê nên mọi việc đâu yên phận nấy, không lo gì cái cõi thiên nhiên biến hoá.
À mà này, hôm trước chú Út sắp nhỏ có nhắc chú là có hứa gởi dìa cho chú hai con nai “thật”, mà không biết có “thiệt” hông? hay chỉ hứa chơi cho vui “cũng được” lúc tửu nhập ngà ngà… Mấy đứa bên này hay nhắc ba cái vụ lặt vặt, chú đừng bận lòng lo nghĩ chi cho mệt. Ai đời, xa xăm vạn dặm mà gởi “nai” qua “nai” lại làm gì cho khổ công, làm sao chịu cho thấu tiền cộ tiền tàu.
Đêm khuya rồi, tui có mấy hàng gởi qua thăm chú thím cùng con cháu mạnh giỏi. Tui bên này cũng đang nhớ chú dữ lắm. Mong ngày mình gặp lại lai rai vài con khô cá lóc ốp với ruợu nếp than mà anh em mình kể chuyện đời nghe chơi cho đỡ khổ tuổi già.
Nay thư,
Hai Trầu
Ghi chú:
(*) Theo “Thiền Sư Thần Hội” của Thiền sư Thích Thanh Từ, do Hội Thiền Học Việt Nam xuất bản, năm 2002.
Tìm lại chốn xưa
Kinh xáng Bốn Tổng ngày… tháng 6 năm 2004
Cháu Nguyên Xưa mến,
Mấy lúc rày, chú có lên trên “net” lục tìm vài ba cái nhà trên trời theo cái thằng cháu của chú bên bển chỉ dẫn, chú mới vào gia trang của cháu và được biết cháu có lập một miếng vườn bên bờ kinh xáng… Rồi trong bụng chú lại tự nhiên lấy làm vui là có đàn em trẻ còn nhớ tới kinh rạch bên nhà dù các em các cháu đang tất bật giữa dòng đời nơi xứ xa, mà chú thấy mừng hết sức là mừng. Chú mới lọ mọ ngồi viết mấy hàng này gởi qua cái “i-meo” với hy vọng chia sẻ cùng cháu và bạn bè của cháu về một chút tình của người dân quê giữa cánh đồng lúa đang rì rào gió nồm mát rượi này.
À, mà này, để chú bắt đầu lại như thế này cho có đầu có đuôi, có gốc có ngọn rạch ròi. Số là có nhiều cháu đi xa quê từ lúc còn quá nhỏ không biết chú Hai ở kinh xáng Bốn Tổng vậy mà kinh xáng ấy ở đâu? Rồi muốn dìa đó thì đi đường nào? Có cách xa chợ búa lắm hông? Hoặc vả có gần núi Sập hay núi Ba-Thê gì hông? Và đặc biệt có xa Sài-Gòn hông? Và đời sống ruộng rẫy thần nông của chú có đỡ lắm hông? Vân vân và vân vân….
Thật là cảm động khi nghe mấy cháu có lòng quan tâm đến nơi chú ở và còn nghĩ đến đời sống của lớp người sống bằng nghề tay lấm chưn bùn như dân ruộng của chú và bà con nơi kinh cùn rạch cạn này. Trước nhứt chú có lời đa tạ tấm chân tình của các cháu, dù các cháu còn nhỏ, dù các cháu đã sống xa cố huơng mà lòng vẫn không xa cánh cò trắng, miếng ruộng xanh và những mảnh vườn mưa nắng hai mùa… Cái quý là ở chỗ đó. Ở chỗ các cháu muốn tìm về kinh xáng Bốn Tổng ở đâu và làm sao mà đi tới đó? Tìm về kinh xáng không phải là các cháu muốn tìm dìa cái nơi khỉ ho cò gáy làm gì mà chú nghĩ cái ý nghĩ thâm thúy hơn, cao xa hơn, và thân ái hơn ở trong bụng các cháu là tìm dìa cái gốc cái nguồn của một dòng giống Việt mình; cái dòng giống mà các cháu đã mang trong trái tim mình biết bao nỗi niềm khi chợt nửa đêm thức giấc là các cháu cứ bồi hồi…
Cháu Nguyên Xưa mến,
Ngay cái tên của cháu thôi, chú cũng đã nể phục dữ lắm rồi. Chú nể phục vì ở vào tuổi cháu là cái tuổi đang bay nhảy như chim chìa vôi đang líu lo chuyền cành gọi dồn bình minh vào mỗi hừng sáng ở bờ tre, vườn mận, vườn xoài. Vậy mà rồi cháu không quên nhìn lại cội nguồn, nhìn lại cái căn gốc của một dòng sống làm nền cho mọi dòng sống trên mảnh đất hình chữ “S” này. Thiệt đó nghe cháu! “Nguyên” là cái gốc mà! Còn “Xưa” là cái nguồn! Dù mình đang sống ở đâu mà cứ lấy cái hiện có rồi nghĩ mình không cần “cái gốc cái nguồn” vì nó xa vời quá mạng, không ăn nhập gì tới đời sống văn minh ở xứ sở văn mình hiện tiền, thì cùng lúc là người ta cũng đang đi dần tới chỗ là mình không còn là mình. Chú nói vậy có cháu còn thắc mắc cái gốc cái nguồn ấy là gì, liệu có làm trì trệ hoặc xấu hổ cho tụi cháu hông chú Hai? Chú dám chắc, trên cõi đời ba vạn sáu ngàn ngày phù du này không ai mà chê cười những người tìm dià cội dìa nguồn bao giờ!
Người làm ruộng như mấy chú đây học hành không nhiều, tiếng Tây tiếng u lại mù mịt nhưng chú biết chắc một điều là ở nơi chú ở bây giờ đây không có cái gì “chính thống” cho bằng lấy ruộng làm gốc, lấy quê làm nguồn. Nói như vậy có ai cười dân ruộng như chú, chú cũng đành chịu vậy thôi; chứ chú không suy nghĩ ngược lại với cái bụng của mình được! Từ đời ông cố ông sơ rồi tới đời ông nội của chú cho chí đến đời tiá má chú và ngay cả bây giờ tới đời chú, rồi kế tới đời con đời cháu của chú tính có hằng trăm, hằng trăm chỉ biết lấy ruộng làm gốc, lấy quê làm nền cháu à! Từ trong ruộng mới đẻ ra cái lòng bền bỉ kiên nhẫn chịu đựng; chịu đựng với nắng dãi mưa dầu, chịu đựng với bao lần thời cuộc loạn ly tản cư chạy giặc, chịu đựng ba ông bốn thầy mà nhiều lúc cuộc sống cứ như không. Cái sức chịu đựng của dân ruộng nó bền như vậy mà nhiều lúc chú cũng không ngờ mình lại “nín thở qua sông” sao quá dễ dàng như vậy! Và rồi từ trong cái kiên nhẫn và bền bỉ ấy, dân quê như tụi chú mới có dịp nhìn lại tổ tiên mình, nhìn lại cha ông mình, nhìn lại chính mình và nhìn lại chòm xóm láng giềng chung quanh mình, chú mới vỡ lẽ ra ở trên đời này không có đức chịu đựng, chịu thua, chịu lép như vậy chưa chắc gì đời nay cũng như đời xưa có được giới chữ nghĩa, giới thầy chú, giới quan quyền, giới trí thức trí thiếc ăn trên ngồi trước trong xã ngoài làng, trên tỉnh ngoài huyện như từ hồi nào tới giờ… Cũng như phải có lớp xà bần làm móng làm nền rồi mới cơi lầu lên làm nhà ngói nhà tường vậy mà! Nhiều lúc tự ví cái lớp nhà quê mình như vậy nghĩ cũng đau lòng lắm mấy cháu à. Nhưng đó là sự thật, một sự thật mà nhiều người không chịu thấy hay có thấy mà rồi lại tảng lờ coi như tui hổng biết ba cái vụ này nhe!!! Từ đó, chú mới thấy cái nền là nó quan trọng dữ lắm nghe cháu! Cái nền nó phải không dời đổi, phải vững vàng, phải bóp bụng mà nén lại thì cái ngọn cái ngành mới vươn mình với gió bão mà không sợ gió bão, hứng chịu mưa dông mà không ngã vì mưa dông. Nước có thể mất, nhà có thể tan, nhưng cái nền nhà quê vẫn còn hoài hà, khó ai có thể bứng nó dời đi được. Từ đó, chú mới thấy mọi sự mọi vật ở đời này không có cái việc tui giỏi là tại tui giỏi mà là phải hỗ tương lẫn nhau cùng lớn lên, cùng vững vàng, cùng tấn bộ. Bởi vậy ông bà xưa mới nói “đâu lưng ấm cật” là vậy đó mà!
Bây giờ, để trở lại nói qua về kinh xáng Bốn Tổng một chút không khéo lại lạc đề. Số là từ hồi cha sanh mẹ đẻ, chú không phải chôn nhau cắt rún nơi kinh xáng này, mà ở tuốt dưới làng Tân-Bình lận, gần rạch Xẻo Môn, chỗ Phật Thầy Tây An cứu dân độ dân tình vào mấy năm dịch bịnh vào thế kỷ trước. Làng Tân-Bình thuộc “cái rìa” của tỉnh Long Xuyên, giáp ranh với tỉnh Sa Đéc hồi đời Tây vô. Mà các cháu nên nhớ cái vụ này nhe, cái gì mà ở gần “cái rìa”, coi như đời long đong lận đận dữ lắm. Vì vậy mà cái nơi chú ra đời là cái làng Tân-Bình đó cũng “ba chìm bảy nổi chín long đong” như chưa từng thấy. Đời Tây nó thuộc Long Xuyên; đời Phó tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ nó thuộc Sa-Đéc rồi lại trả dìa Long-Xuyên; đời cụ Trần Văn Hương nó thuộc Vĩnh-Long; rồi tới đời bây giờ nó lại thuộc Đồng-Tháp. Thành ra, chú bây giờ ở kinh xáng Bốn Tổng, chẳng hoá ra chú như dân ở “ngoài cái rìa” của Tân Bình, tức là chú ở “cái rìa” bậc hai bậc ba gì rồi, thành ra nó còn tệ hơn cái nơi từng chôn nhau cắn rún của mình, nên nhiều lúc đêm đêm thức giấc trằn trọc không ngủ được chú mới nghĩ lại đời mình không gì buồn cho bằng lúc nào mình cũng chỉ đứng bên rìa của cuộc đời, mà nhứt lại ở tuổi già cúp thùng thiếc này cái nghĩa của chữ “đứng bên rìa” sao mà nó làm cho chú thấy cay xé tâm can quá mạng! Cho nên thấy cái tên “Nguyên-Xưa” của cháu là chú biết cháu muốn đứng ở trong chứ không chịu ở “bên rìa” của nguồn gốc rồi.
Đó là cái làng Tân-Bình của chú. Cái làng đã không ở yên cái làng, nay sáp mai nhập nhiều lúc không biết đâu mà mò, nói gì tới phận mình, rồi ra cũng phải bồng chống xuống xuồng giống như ông nội thằng Cộc trong “Rừng Mắm” của Bình-Nguyên-Lộc bồng chống xuống xuồng dià rọc Ô-Heo ở tuốt dưới Cà-Mau, còn chú thì lại giong dià kinh xáng Bốn Tổng, tuốt trên xã Định Mỹ thuộc quận Núi Sập tỉnh Long Xuyên hồi trước. Cái quận Núi Sập này đời ông Nguyễn Ngọc Thơ còn gọi là quận Huệ-Đức.
Cháu nên nhớ Huệ-Đức này lại khác với Đức-Hoà, Đức-Huệ ở miệt Hậu-Nghĩa trên sông Vàm-Cỏ-Đông, Vàm-Cỏ-Tây nhe. Hai địa danh gần giống tên nhưng khác nhau nơi chốn và phong thủy dữ lắm. Nơi này thì ruộng lúa, nơi kia lại mía với đường. Nơi này xa Sài-Gòn, nơi kia gần Toà Thánh Tây-Ninh, gần Sài-Gòn hơn. Nhớ hồi còn nhỏ, chú có lọ-mọ lên Đức-Hòa, Đức-Huệ chơi cho biết nhưng đường đi hồi đó vắng-vẻ lắm nên đi chơi mà cũng hồi hộp thấy mồ vì con đường từ ngã ba Củ-Chi dẫn dìa tỉnh lỵ Gia-Nghĩa sao mà nó lạnh tanh hà, đường sá bị đào xới ổ gà vũng trâu tanh bành ráo trọi, bây giờ nhắc lại chú còn ớn da gà!!! Đứng ngoài tỉnh lộ nhìn xa xa về phía thôn xóm xa là cả một cánh đồng năn, đưng, lát mịt mù hoang dã tiêu điều. Nhứt là vào những buổi trời chiều bảng-lảng, ối thôi, nhìn cảnh hoang vắng ấy, bây giờ nhớ lại chú còn buồn thúi ruột mấy cháu à!!! Và có hơn bốn chục năm rồi, giờ có lẽ hai nơi này đã khác xưa nhiều, chú cũng không rành rọt lắm vì năm tháng còn dời đổi huống hồ gì tạo hoá thiên nhiên!!!
Rồi chú mới nghe bạn cháu ở Đức-Hoà nhắc tên những ấp “Trầm-Lạc”, “Mỹ-Hạnh”; những “giồng Lốp”, “giồng Dứa”, “giồng Cám”; rồi nào là cái làng “Hoà-Khánh”, xóm đạo “Tha-La” của Vũ-Anh-Khanh không biết bây giờ nó ra làm sao nữa? Cái xứ sở ấy “giồng” nhiều lắm vì nghe đâu đất “giồng” là đất Miên, rồi ông cha mình mới mở mang bờ cõi xuống tuốt dưới chỗ chú ở bây giờ nên mấy cái tên “Chắc-Cà-Đao”, Mặc-Cần-Dưng”, Xà-Tón” là phiên âm từ tiếng Miên đó mà.
(còn tiếp)










