Kẻ này biết Nguyễn Bá Trạc cách đây cũng đã ngoài hai mươi năm. Lúc bấy giờ, Đặng Tiến viết bài nhận định về tập thơ Tôi Cùng Gió Mùa, đã so sánh thơ của Nguyễn với thơ NBTrạc. Từ đó Nguyễn Tìm đọc Ngọc Cỏ Bồng và biết thêm nhiều điều về tác giả.

Nguyễn Bá Trạc sinh năm 1943 tại Huế, tốt nghiệp Quốc Gia Hành Chánh, du học Hoa Kỳ năm 1974, hiện định cư tại Phần Lan.

Tác phẩm đã xuất bản:

– Ngọn Cỏ Bồng,

Chuyện Một Người Di Cư Nhức Đầu Vừa Phải,

Nước Mắt Trước Cơn Mưa (dịch từ nguyên tác Tears Before the Rain của Larry Engelmann).

Nhà phê bình Bùi Vịnh Phúc khi đọc Ngọn Cỏ Bồng đã có nhận định:

Ngọn Cỏ Bồng là tác phẩm đầu tay của Nguyễn Bá Trạc. Mặc dù những bài viết, và đặc biệt là thơ, của Nguyễn Bá Trạc đã xuất hiện từ đầu năm 1981 trên Thời Luận, tờ báo do tác giả và bằng hữu chủ trương ở San Jose, và rải rác sau đó trên một số báo chí ở miền Nam và Bắc Cali, mãi cho đến tháng 4 năm 1985, Ngọn Cỏ Bồng của Nguyễn Bá Trạc mới thực sự ra mắt độc giả với hình thức là một tập thơ văn phá cách. Phá cách, bởi lẽ tác giả tự để cho mình phất phơ, sống trong đời sống mà vẫn có vẻ như không chịu nhập cuộc, không chịu ép mình vào một qui luật, một giới hạn nào. Cái cung cách sống đời và sống văn chương như thế phản ánh một phần nào cái thế sống và tâm tư của những con người tị nạn Việt Nam. Những con người, trên bề mặt hiện tượng, đã bị bứng gốc, đứt rễ, déraciné, uprooted, để đem đi trồng ở một thổ ngơi khác.

Sau đây mời độc giả đọc một truyện của Nguyễn Bá Trạc để hiểu thêm con người và tâm tình của nhà văn. N&BH

Xem thêm:   Nguyễn Viện - Có Những Kẻ Đi Mãi Không Về

Ông Khó Tính

Nguyễn Bá Trạc

Bạn tôi, ông Khó Tính. Lúc còn ở Sài Gòn vốn làm nghề mô phạm. Kể cả trường công lẫn trường tư, sĩ tử theo học kinh nghĩa có đến mấy nghìn. Gặp lúc can qua, học trò thì đông mà chả mấy ai hiển đạt: cứ học nửa chừng lại bị gọi đi lính, ba phần chết tiệt mất hai. Số còn lại trở về chống gậy, đi xe lăn. Thầy trò nhìn nhau nghẹn ngào, chửi thề những câu tục tĩu.

Chửi đủ thứ chuyện. Chửi trời bất nhân, chửi người bất nghĩa, chửi cộng sản bạo tàn, chửi bọn tự xưng Quốc gia là đám việt gian dốt nát. Thiên hạ sau lưng xì xào nói này nói nọ. Nghe đến tai, ông chỉ cười khẩy.

Thân hình mập mạp, mặt khó đăm đăm, nhưng tâm địa dễ thương cảm. Nhìn xác trẻ chết banh vì bom đạn, ông thường chảy nước mắt mà khóc.

Tính tình cổ quái, hay thích kết giao với những tay giang hồ dị khách, đêm đêm nắm tay nhau lên tận nhà thờ Ba Chuông ăn thịt chó. Rượu say ngất ngưỡng, gối đầu vào chai lăn kềnh ra mà ngủ.

Trong đám đi lại có một anh mỗi lần rượu vào là thơ ra. Giọng ngâm khàn khàn như vịt đực. Bài thơ đắc ý chỉ có mấy câu cụt ngủn:

Trước mặt là cộng Sản

Sau lưng là kẻ thù

Ngập ngừng tôi đứng giữa

Giật mình nghe tiếng hô…

Sau này anh được cộng sản cho đi học tập. Nghe nói học mãi vẫn không khá. Vẫn giật mình mỗi lần nghe tiếng hô, và vẫn cất giọng khàn khàn ngâm bài thơ cụt ngủn.

Xem thêm:   Tạp chí Thời Tập

Khi cộng sản từ Bắc tiến vào Nam, xe tăng vừa ì ạch tiến sát cửa dinh Độc Lập thì ông Khó Tính quyết định dắt vợ cõng con xuống tàu lánh xa bạo ngược. Cuối cùng trôi giạt đến Mỹ. Đất lạ quê người, tiếng Anh ăn đong, kinh nghĩa nói không ai hiểu. Sớm đi hái trái, tối đóng đồ hộp, sau rốt mày mò theo nghề điện tử làm kế sinh nhai độ nhật.

Từ ngày xa nhà, tính tình lại còn khó chịu hơn. Mặt mày hầm hầm, mồm lúc nào cũng nói chuyện một mình. Chiều chiều đứng chống nạnh bắt con tập võ ta. Đứa đi quyền, đứa dang chân xuống tấn. Người bản xứ cho là lạ, tò mò rủ nhau nhìn trộm qua hàng rào như đi xem xiếc. Ban đêm bắt con học Việt Sử. Đứa nào không thuộc thì co giò mà đá, hàng xóm gọi cảnh sát đến còng tay dẫn đi.

Càng cay đắng, càng chửi, càng chê. Chê người gì mà nhiều lông lá, chê nhà chọc trời nhìn thêm mỏi mắt, có ngày động đất nó đổ xuống đầu cho mà khốn nạn. Lại chửi trời nhiều hơn, chửi tục hơn, gọi trời là thằng, không kiêng nể gì nữa.

Bạn bè tan tác, chỉ còn một hai người bạn cũ may gặp lại nơi đất khách. Bạn lái xe đi du lịch về khen phong cảnh xứ này đẹp. Ông Khó Tính lừ mắt bảo: “Cái gì mà anh chẳng cho là đẹp?” Mùa thu lá vàng bay lả tả, bạn khoái chí ngâm nga: “Rừng phong thu đã nhuộm mùi quan san”. Ông hằn học nói: “Đây là lá Mapple chứ đâu phải lá phong chó gì đâu mà anh gọi là rừng phong?”

Bạn khen biển, ông chê lạnh, tắm cóc sướng bằng Long Hải, Vũng Tàu. Bạn khen núi, ông bỉu môi: “Tôi lấy làm ngờ về cái thẩm mỹ của anh. Núi trọc thế này so sao được gót chân Đại Lãnh?”

Xem thêm:   Nhà thơ/nhạc sĩ Đynh Trầm Ca

Bạn ngượng, không còn dám mở mồm khen điều gì. Bụng bảo dạ: “Bọn Đông Dương ta khối đứa bị bệnh tâm thần” có ý thương xót mà lui tới thăm viếng nhiều hơn.

Khi vườn sau, khi sân trước, khi điếu thuốc, khi miếng trầu, khi chè chuyên năm bẩy chén, khi Kiều lẩy một đôi câu. Hai người quan hệ mật thiết: tiết canh, chả cá, mời mọc qua lại ăn nhậu chuyện trò và thường xuyên chửi đổng.

Một hôm nhận được bao trà từ Việt Nam gửi sang. Bạn thân ái mời ông Khó Tính đến. Nước đun sủi tăm, trà trút vào bình, chủ khách ân cần đối ẩm.

Nguyễn Bá Trạc

Được đôi tuần, bạn lên tiếng hỏi:

“Trà uống được không?”

Ông Khó Tính:

“Cũng được, nhưng thua Đỗ Hữu.”

Bạn cười giòn:

“Bố ơi, chính hiệu trà Đỗ Hữu Bảo Lộc vừa gửi sang.”

Ông Khó Tính:

“Thảo nào. Có điều cái nước máy chát quá!”

Bạn chồm lên:

“Biết tính bố thích trà Bảo Lộc, phải hứng nước mưa pha trà đấy, không phải nước máy đâu.”

Ông Khó Tính tuột giày gãi nách ngáp:

“Nước mưa ở Mỹ uống vào đắng cả mồm!”

Chuyện ông Khó Tính chê nước Mỹ chẳng bao lâu được truyền tụng, các ông độc thân vui tính la cà tiệm cơm tiệm phở kể lại cười rúc rich. Người ta thêm thắt về đủ mọi thứ chuyện làm ông Khó Tính càng thêm bực bội.

 

Nhưng, ít ai biết chuyện ông Khó Tính còn bực mình đến cả hình hài của ông:

… Giận mình mang nặng hình hài

Chẳng bằng mây trắng về bay lưng trời…

NBT