Trong số các đền thờ và lăng mộ của 4 vị đệ nhất công thần triều Gia Long, Minh Mạng trên đất Sài Gòn-Gia Định là Tiền quân Nguyễn Văn Thành, Hậu quân Võ Tánh, Hữu quân Nguyễn Huỳnh Đức và Tả quân Lê Văn Duyệt, thì Lăng mộ của Lê Văn Duyệt to lớn nhất. Lăng có tên chính thức là Thượng Công miếu từ năm 1914 khi Hội Thượng Công Quý Tế được thành lập.

Thượng Công miếu hay Lăng Ông Bà Chiểu thời Pháp thuộc, người dân đến cúng bái rất đông (Ảnh: Internet)   

Tôi có dịp đi khắp nơi, ghé thăm lăng mộ và đền thờ có công lớn trong công cuộc khai phá đất phương Nam. Tuy vậy, trong số lăng mộ của các bậc tiền nhân thì lăng mộ của Tả quân Lê Văn Duyệt để lại trong tôi nhiều ấn tượng nhất. Ấn tượng về vị Tả quân, tôi đã được học trong sách giáo khoa hồi còn tiểu học. Nào là mộ phần bị vua Minh Mạng xử phạt, chết rồi còn bị đánh trăm roi lên mộ phần rồi cho san phẳng. Thậm chí còn cho binh lính thải nước tiểu vào quan quách. Lòng thù hận giữa vua Minh Mạng và Tả quân từng được truyền miệng từ đời nay sang đời khác, mặc dầu sách sử ghi chép chính nhà vua tự tay xuống chiếu xử trảm cha vợ tức Phó Tả quân thành Gia Định Huỳnh Công Lý và giao cho Lê Văn Duyệt quyền xử trảm.

Sự thù hận giữa vua Minh Mạng với vị công thần có nhiều công lao giúp nhà Nguyễn khôi phục triều đại ban đầu là một đốm lửa sau sự kiện xử chết gian thần Phó Tả quân tham lam vô độ. Nguyên nhân chính là sự trả thù cuộc binh biến thành Phiên An (thành Gia Định) năm 1832 do người con nuôi của Lê Văn Duyệt là Lê Văn Khôi cầm binh bạo động từ việc quan lại đối xử bất công với tôi tớ của vị Tả quân sau khi ông lâm bệnh qua đời cùng trong năm đó. Đến năm 1835, cuộc binh biến bất thành, Lê Văn Khôi bị xử chém cùng hai ngàn binh lính trung thành tại đồng Mả Ngụy. Việc truy vấn quy tội của người cha nuôi đã chết không thể bỏ qua. Vua Minh Mạng lệnh cho Tổng đốc Gia Định bấy giờ dựng bia đá sỉ nhục trên phần mộ san bằng được khắc 8 chữ “Quyền yêm Lê Văn Duyệt phục pháp xử” (nơi hoạn quan Lê Văn Duyệt chịu tội). Thân sinh của ông cũng bị đục tước phẩm hàm trên bia mộ, ruộng điền quê nhà bị tịch thu, cho voi giẫm đạp phá nát nhà thờ họ tộc.

Xem thêm:   New Orleans cuộc giao thoa rực rỡ

Đó là chuyện xảy ra tại nguyên quán của Lê Văn Duyệt, nơi nội tổ của ông là Lê Văn Hiếu di cư từ Sơn Tây vào Quảng Ngãi sinh sống. Thật sự, ông nội của Lê Văn Duyệt sau đó đã theo những người khai phá đất phương Nam di cư đợt đầu tiên vào giữa thế kỷ 18 đến sinh sống tại làng Long Hưng tỉnh Định Tường. Nơi đây có thể gọi là quê nhà của ông từ đời ông nội, tiếp theo đời cha của ông là Lê Văn Toại sinh ra 4 người con trai. Lê Văn Duyệt là con trai trưởng, người nhỏ bé, cơ thể khiếm khuyết bộ phận sinh dục (?) nhưng có sức mạnh phi thường, năm 17 tuổi được tuyển dụng làm thái giám trong cung, sau này ông theo Chúa Nguyễn chống quân Tây Sơn, lập nhiều chiến công hiển hách, rồi ông được phong chức Tả quân khi Nguyễn Ánh lên ngôi tức vua Gia Long, kiêm chức Tổng trấn Gia Định lo xây dựng thành Bát Quái (Gia Định thành), trông coi mọi việc từ quân sự đến dân sự. Thuở đó, ông được mệnh danh là một trong “ngũ hổ tướng” ở Gia Định (khi đó Gia Định rộng lớn từ Sài Gòn đến Cà Mau) Nguyễn Văn Trương, Nguyễn Văn Nhơn, Lê Văn Duyệt, Nguyễn Huỳnh Đức, Trương Tấn Bửu.

Khu mộ của Tả quân bên trong lăng miếu đã được các vua đời sau Minh Mạng cho sửa sang (Nguồn: Manhhaiflickr)

Lại nói về Lê Văn Duyệt là một yêm quan (hoạn quan) sao lại có vợ thì sách sử đã ghi do lập được nhiều thành tích, công lao lớn với triều đình giúp ổn định và phát triển vùng đất phương Nam nên vua Gia Long ban tặng cho ông một cung nữ tên Đỗ Thị Phận làm vợ hầu hạ ông trong dinh phủ để xoá bỏ lời gièm pha giới tính của người đời đối với một vị tướng công lỗi lạc thời bấy giờ. Ngoài chuyện được vợ chính thức, Lê Văn Duyệt còn có thêm hai cô thiếp hầu. Theo nhà văn Sơn Nam, thì đó là hành động tượng trưng, để chứng tỏ là nam giới. Chuyện này nghiễm nhiên đúng với lời của ông thầy tướng số khi gặp Lê Văn Duyệt lúc đó còn là một thiếu niên ở Định Tường. “Người này tuy cơ thể bất bình thường, nhưng sau này vẫn có đủ vợ lẽ, nàng hầu, công danh hiển hách, cha mẹ được nhờ”.

Xem thêm:   Giá vàng nhảy múa!

Chính vì là một hoạn quan, được vua phong tặng cung nữ làm thê thiếp mà bà Đỗ Thị Phận thoát khỏi nạn tru di. Theo Sài Gòn năm xưa của Vương Hồng Sển ghi nhận: “Bà không bị giết vì Lê Văn Duyệt là người yêm hoạn (theo luật thời bấy giờ, bà không phải là vợ nên được miễn nghị)”. Sau biến cố thành Phiên An, bà về sống cùng mẹ ruột ở khu vực Chợ Rẫy, trong một ngôi chùa (Chùa Bà Dội) do mẹ bà tạo lập. Khi bà mất được an táng trong một khuôn viên sau vườn chùa. Mãi đến năm 1841, vua Thiệu Trị lên ngôi, xét thấy Lê Văn Duyệt bị xử oan nên xuống chiếu tha tội cho các thân nhân của ngài Tả quân. Đến năm Tự Đức thứ 2 (1849), nhà vua nghĩ đến công lao của Lê Văn Duyệt, cho nhổ bỏ bia đá có khắc 8 chữ nhục hình, đồng ý cho thân nhân sửa sang xây đắp mộ phần. Đến năm 1868, vua Tự Đức mới ra chiếu phục nguyên hàm cho Tả quân Lê Văn Duyệt và cho thờ trong miếu Trung hưng công thần ở Huế, cũng như cho phép thân nhân di táng mộ phần phu nhân từ chùa Bà Dội về an táng cạnh mộ của ông ở Gia Định.

Vấn đề giới tính của Tả quân Lê Văn Duyệt, đến nay vẫn còn được nhiều nhà nghiên cứu sử học quan tâm. Nhà nghiên cứu lịch sử Nguyễn Thị Chân Quỳnh, khi viết về Lê Văn Duyệt có dẫn lại lời của Crawford – thương nhân người Anh – ghi trong Nhật ký hành trình của Crawford trong một lần đến Gia Định vào ngày 2/9/1822 như sau: “Viên Governor of Saigon (có lẽ chỉ chức Tổng trấn Sài Gòn) là một hoạn quan, nhưng nếu không biết trước thì không thể đoán ra. Cằm ông ta không có râu và giọng nói yếu ớt, tuy chát tai như đàn bà nhưng chưa tới mức khiến người ta phải nghi ngờ. Ông ta có vẻ không quan tâm mấy tới y phục, chỉ mặc một áo lụa trắng trơn và đội một chiếc khăn nhiễu rộng bản cũng màu trắng”. Cứ như thông tin chép ở trên thì viên Tổng trấn đó chính là Lê Văn Duyệt.

Cổng Tam quan Lăng Ông một biểu tượng văn hoá lịch sử thành phố Sài Gòn (nguồn: Manhhaiflickr)

Mục đích đi tìm giới tính thật của Lê Văn Duyệt chỉ là một chi tiết nhỏ trong việc nghiên cứu lịch sử. Hoạn quan thường được người ta nói chung khi làm việc trong nội vụ phủ. Bình thường những thái giám này được tuyển dụng vào cung cấm có khi do khuyết tật bộ phận sinh dục, có khi tự huỷ hoại bộ phận theo quy định bắt buộc. Vấn đề người ta nghi ngờ Lê Văn Duyệt là một người bán nam bán nữ, chứ không phải là một hoạn quan theo đúng nghĩa như danh tướng Lý Thường Kiệt đời nhà Lý hoặc Việp Quận Công Hoàng Ngũ Phúc đời Lê Hiển Tông.

Xem thêm:   Vụ trộm bí mật

Theo tôi, giới tính gì đi nữa, không quan trọng bằng những hoạn quan này đều là anh tài, thao lược cầm quân, chỉnh đốn triều can được các tầng lớp nhân dân yêu mến. Không những thế ngay như Lê Văn Duyệt còn rất rộng rãi, đối xử khéo léo với người phương Tây đến buôn bán ở Sài Gòn dẫu rằng chính sách bế môn toả cảng của vua Minh Mạng gây áp lực rất lớn đối với Tổng trấn thành Gia Định. Thuở đó, nhiều người phục ông, gọi là Ông Lớn Thượng hay Đức Thượng Công. Người nước lân cận đều biết danh tiếng của ông.

Thượng Công miếu hay Lăng Ông lần đầu tôi được biết đến khi hồi còn nhỏ. Má tôi năm nào cũng vậy, cứ đến rằm tháng Giêng là dẫn anh em chúng tôi đến Lăng Ông Bà Chiểu vui Tết Thượng Nguyên. Cả nhà dồn lên chiếc xe xích lô máy nổ phành phạch đến Lăng cúng bái, rồi bước ra khu phần mộ Ông và mộ Bà thắp nhang khấn nguyện, xin xăm xem điều tốt xấu trong năm. Má tôi chỉ biết Lăng Ông linh thiêng lắm do chị em bạn hàng bàn tán, chứ nào  biết Thượng Công miếu cũng chính là Lăng Ông. Ngay cái tên Thượng Công miếu tôi chỉ mới biết sau này khi đi tìm hiểu mộ Lê Văn Duyệt nằm trong phần mộ thân sinh của đức Tả quân ở xã Long Hưng huyện Châu Thành, Tiền Giang. Nhưng đó chỉ là mộ vọng (giả) cũng như khu mộ của Tả quân nằm trong số 28 cổ mộ ở Kim Long xứ Huế.

Tả quân Lê Văn Duyệt được in hình trên tờ tiền 100 vào thập niên 1960 (Nguồn: Internet)

TN