1. Thi sĩ Mai Trung Tĩnh

Thi sĩ Mai Trung Tĩnh (còn có bút danh Hương Giang) tên thật là Nguyễn Thiệu Hùng, sinh năm 1937 tại Hà-Nội. Ông làm thơ từ lúc còn ở bậc trung học và có thơ đăng báo từ năm 1953.

Năm 1954 ông di cư vào Nam, chủ trương phong trào làm thơ tự do và xuất hiện thường kỳ trên tạp chí Sáng Tạo của nhà văn Mai Thảo. Mai Trung Tĩnh tốt nghiệp trường Đại học sư phạm Sài-Gòn và dạy học ở trường Cao Thắng một thời gian thì bị động viên vào quân ngũ. Ông theo học ngành chiến tranh chính trị tại trường võ bị Thủ-Đức rồi được chọn về cục Tâm lý chiến, phục vụ tại đài phát thanh Quân đội. Nơi đây, ông có dịp quen biết với nhạc sĩ Trần Thiện Thanh và mối duyên văn nghệ dẫn dắt Mai Trung Tĩnh viết lời cho ca khúc “Lâu đài tình ái” vào năm 1966. Năm 1972, ông được biệt phái trở về trường trung học kỹ thuật Cao Thắng để tiếp tục dạy học.

Tháng 5 năm 1975, Mai Trung Tĩnh bị bắt đi tù Việt cộng trong 7 năm. Năm 1990, ông vào tù lần nữa trong vụ “Diễn đàn tự do của giáo sư Đoàn Viết Hoạt” cho đến năm 1994.

Năm 1995, ông cùng gia đình đến định cư tại Hoa-Kỳ theo diện HO và nhận được giải thưởng của tổ chức nhân quyền “Human Rights” dành cho những nghệ sĩ bị tù đày. Những năm cuối đời, Mai Trung Tĩnh phải chịu đựng bệnh tật vì chứng mù mắt trái và ung thư não. Năm 1999, ông vào viện dưỡng lão để được chăm sóc và qua đời vào năm 2002.

Xem thêm:   Những câu chuyện nhân văn - Về bài thơ Tương Biệt Dạ

Mai Trung Tĩnh làm thơ không nhiều nhưng được văn giới chú ý. Năm 1962, ông nhận được giải thưởng Văn chương toàn quốc với tập thơ “40 thi phẩm” viết chung với thi sĩ Vương Đức Lệ (mỗi người góp 20 bài thơ). Những thi tập của Mai Trung Tĩnh đã xuất bản gồm:

– “40 thi phẩm” (in chung với Vương Ðức Lệ, nhà xuất bản Bông Lau, Sài-Gòn 1960)

– “Ngoài vườn địa đàng” (1962)

– “Những bài thơ xuôi” (1969)

– “Tập thơ Mai Trung Tĩnh” (ấn hành tại Hoa-Kỳ, 2001)

Thi sĩ Mai Trung Tĩnh   

  1. Lâu đài tình ái

Khi yêu nhau với những nồng nàn mê đắm, người ta thường tưởng tượng trên trái đất này chỉ tồn tại mỗi hai người. Những vần thơ tình ái đẹp đẽ cùng những cụm mây xanh sẽ được gom góp thành khối lâu đài tuyệt mỹ. Dẫu buổi chiều vàng hay đêm trăng sáng tỏ, đôi tình nhân cứ quyến luyến bên nhau và không thể rời xa dù chỉ trong phút giây ngắn ngủi …

“Anh sẽ vì em làm thơ tình ái

Anh sẽ gom mây kết hình lâu đài

Đợi chờ một đêm trăng nào tới

đợi chiều vàng hôn lên làn tóc

đợi một lần không gian đổi mới

đón hai đứa chúng ta mà thôi”

Bìa tờ nhạc “Lâu đài tình ái”, 1966

Có lẽ vì lâu đài mang tên “tình ái” chỉ tồn tại trong câu chuyện cổ tích nên bao nhiêu sao trời được quân vương gom về làm vương miện và vũ trụ chong đèn cho hoàng hậu trong buổi đăng quang. Từ nay cho đến ngàn sau, lâu đài tình ái chỉ có quân vương cùng hoàng hậu ngự trị nơi cao sang, quyền quý và tận hưởng mọi lạc thú như trong cõi thiên thai …

Xem thêm:   Người hùng trong mưa lũ

“Tinh tú trời cao thành vương miện sáng

Khai lễ đăng quang vũ trụ chong đèn

Hoàng hậu về cao sang quyền quý

đẹp nụ cười quân vương vừa ý

và lâu đài mang tên tình ái

đón hai đứa chúng ta mà thôi”

Ca nhạc sĩ Trần Thiện Thanh

Giấc mơ liêu trai không kéo dài được lâu vì lâu đài tình ái đó nào có được ở cõi nhân gian không thể hiểu này. Chưa kịp tỉnh cơn mơ, chàng nhạc sĩ lại mong cho tiếng hát của mình được chắp thêm đôi cánh để cùng người thương bay bổng qua bao đồi núi, thác ghềnh và nuôi dưỡng mối tình vững bền theo năm tháng …

“Em ơi lâu đài tình ái đó

chắc không có trên trần gian

anh đưa em vào bằng tiếng hát

chắp đôi cánh nhung thiên thần

Em ơi lâu đài tình ái đó

sáng trong ánh tinh cầu xa

cho nên cho dù nghìn năm qua

còn vấn vương đôi hồn hoa”

Buổi lễ trao tặng Giải Văn chương Toàn quốc ngày 8 Tháng Chín, 1962 tại Sài Gòn. (Từ trái qua: thi sĩ Vương Đức Lệ (giải nhì thơ đồng hạng), nhà văn Nhật Tiến (giải nhất tiểu thuyết), thi sĩ Đinh Hùng (giải nhất thơ), học giả Lê Ngọc Trụ (giải nhất biên khảo), thi sĩ Mai Trung Tĩnh (giải nhì đồng hạng thơ). Hình: Văn NghỆ Hoa Đông Phương

Vì bước vào cuộc đời với hai bàn tay trắng nên chàng chỉ xin vay nhạc, mượn thơ để kết thành lầu hoa tình ái ở cõi trần này. Nơi đó chỉ có một tình yêu chân thật với lời hứa hẹn ban đầu không bao giờ nhạt phai. Lâu đài tình ái mãi mãi sẽ là chốn đi về của đôi uyên ương cùng nhau chia ngọt sẻ bùi, nguyện sống thác cùng nhau cho đến lúc bạc đầu …

Xem thêm:   Thần hộ mệnh 4 chân

“Anh kết lầu hoa bằng thơ tình ái

cho mắt em xanh đến tận muôn đời

Chuyện tình mình chưa nghe lừa dối

lời hẹn đầu chưa đi vào tối

thì lâu đài mang tên tình ái

đón hai đứa chúng ta mà thôi”

Hầu hết những nhạc phẩm của Trần Thiện Thanh đều do chính ông soạn nhạc và đặt lời ca. Riêng lời ca ở một số tác phẩm, thí dụ như  “Chiều trên phá Tam-Giang” (thơ Tô Thùy Yên) hay “Lâu đài tình ái” (Mai Trung Tĩnh viết lời ca) được mượn từ các tác giả khác.

Chủ đề tình yêu không phân biệt thời gian lẫn không gian nên nhạc phẩm ‘Lâu đài tình ái” dẫu hiện diện ngót 60 năm nhưng vẫn được số đông khán thính giả đón nhận từ trong nước đến hải ngoại. Lời ca của Mai Trung Tĩnh trong “Lâu đài tình ái” không xuất xứ từ một bài thơ nhưng vần điệu êm ả cùng chữ nghĩa được chọn lọc như chứa đựng được tình yêu thương ngút ngàn và tin tưởng tuyệt đối vào cuộc sống lứa đôi. Khi yêu nhau, ai nấy cũng mong được hạnh phúc bền lâu thì “Lâu đài tình ái” mãi là chứng nhân cho tình yêu bất diệt và trường tồn theo năm tháng.

TV