Tự dưng tôi lại nhớ đến những trò chơi trẻ con ngày xưa. Cứ tưởng chỉ mỗi mình hồi tưởng lại mấy trò bắn bi, tạt lon, tạt bao thuốc lá, đục nút khoén (nắp thiết các loại chai nước ngọt) hay chơi bông vụ, chơi u mọi hay năm mười (trốn tìm).

Chơi đánh trận xong, tắm sông là niềm vui của trẻ con thôn quê (Ảnh: Internet)
Ấy vậy khi gặp vài ba người bạn lớn tuổi, tôi nhắc chuyện này thì mấy ông bảo rằng tôi gãy đúng chỗ ngứa, nhiều trò chơi quê mùa để nhớ, trẻ con ai lại không ham chơi. Còn nhiều trò lắm kể nhau nghe cho vơi những ký ức chìm lắng của một đời người.
Ông A bắt đầu trò đánh trận giả. Ông cho rằng, hồi thuở những năm thập niên 40, các nhà sản xuất hàng hoá tiêu dùng làm bằng nhựa chưa quan tâm đến các loại hình đồ chơi cho con nít. Cuộc sống còn khó khăn trong thời chiến tranh triền miên, người ta chỉ nhắm vào những nhu cầu thiết yếu của dân chúng. Người Hoa Chợ Lớn nấu đồ nhựa sản xuất rổ rá, thau, ly chén bán khắp làng quê chứ đốt đuốc tìm đâu ra chỗ nào bán đồ chơi cho con nít làm bằng nhựa như súng nước, súng pin thấy tin lửa điện xanh xanh đỏ đỏ như của Batman trong phim ở hai thập niên sau đó.
Thuở bé ở các miền quê không có gì bày trò, trẻ con chạy u ra sau vườn, chặt vài tàu lá chuối làm “vũ khí”. Đầu tiên rốc lá xé dọc thành từng sợi kết vòng đeo lên đầu lên vai nguỵ trang y như chú lính bắn tỉa. Sau đó lấy phần cuống lá làm súng trường. Cuống lá cắt xéo ngang sâu chừng một phân dài chừng 5 phân, cách quãng theo phần thân lật thẳng lên làm cò. Mỗi lần bắn cứ vuốt dọc cò tạo thành tiếng kêu lẹp bẹp nghe cũng vui tai. Súng chiến nhất làm từ phần bẹ. Phần bẹ gần thân chuối nên to hơn, cứng hơn thì làm súng máy. Tiếng súng kêu nhanh chắc nịch bụp bụp bụp, bụp bụp bụp. Đứa nào làm tiểu đội trưởng mới được mang súng to. Chế tạo vũ khí xong rồi thì bắt đầu phân chia hai đội bày binh bố trận, xách súng chạy đi tìm chỗ núp đánh du kích theo lệnh của chỉ huy.
Chuyện đang ngon trớn thì ông B chen vô bổ sung màn chế “lựu đạn” bởi trò đánh trận giả hồi còn bé vẫn còn làm ông thích thú đến tận giờ. Quê ông ở Long Khánh, thuở đó nhà nào sau vườn cũng đều có trồng năm bảy cây chuối hột. Loại chuối này to trái, khi chín người lớn đem phơi khô ngâm rượu đế uống trị mệt mỏi đau lưng. Súng trường, súng đại liên ông không khoái mà chỉ thích ném lựu đạn cho nhanh. Ai cầm súng cứ cầm, riêng ông bẻ một mớ trái chuối hột xanh lè, cởi trần giắt vòng giữa lưng quần tìm ổ địch núp mà quăng. Thằng địch nào mà trúng giữa mặt một trái coi như khóc ông khóc cha buông súng đầu hàng. Nhưng chẳng có địch quân nào đầu hàng mà người đầu hàng là má tôi. Mủ (nhựa) “lựu đạn” chuối non giắt lưng quần tươm ra làm dơ hết mấy cái quần xà lỏn, chẳng có xà bông nào giặt ra.

Bắn súng bẹ chuối trò chơi trẻ con thôn quê ngày trước (Ảnh: Internet)
Ông A kể tiếp, vui nhất trong trò chơi trận giả là ăn gian, cãi nhau chí choé. Tìm thấy địch quân núp trong bụi chuối ngồi nhai mấy trái bần chấm muối ớt. Tôi bắn ào ào mà tụi nó không chịu chết, lại còn quăng lựu đạn vào mình. Mấy cái súng cuống lá bắn năm bảy lần gãy cò hết ráo, vậy là tụi con nít tui bắn súng miệng. Cuộc chiến săn lùng quân địch đang diễn ra đâu còn thì giờ mà chặt bẹ chuối làm súng. Bắn súng miệng nên không thằng nào chịu chết. Cuối cùng thì cả hai phe không bên nào thắng cuộc. Thường sau khi kết thúc trận giả là bọn con nít tụi tui kéo nhau ra sông lặn hụp tắm gội lại có thêm trò chơi mới. Hình như thuở đó, con nít chơi đùa không biết mệt thì phải?
Ông C ngồi nghe gật gù lên tiếng, thì hồi xưa ở quê đâu có phương tiện gì giải trí đâu, radio chưa có, truyền hình chưa có, chớp bóng cũng không có. Trong năm một hai lần đoàn cải lương về quê hát cho bà con xem. Cho nên ngoài thời gian đến trường thì giờ của bọn con nít tụi mình trong ngày dài lắm bày ra nhiều trò chơi. Trò chơi súng bẹ chuối có thể chơi quanh năm nhưng trò thụt ống cò ke ở miền quê An Giang của tôi rộ lên vào những tháng hè. Mùa hè là mùa trái cò ke xanh um đầy trong rừng núi. Bọn tôi đi hái cả giỏ đệm đem về làm đạn bắn súng thụt cả tuần, hết đạn lại vào rừng hái tiếp.
Nhắc đến ống thụt cò ke, mắt ông B sáng lên niềm vui như đứa trẻ con lên sáu. Có lẽ trò chơi này ông để lại trong ông nhiều ký ức. Trò chơi này tuy theo mùa không kéo dài trong năm nhưng quê Long Khánh của tôi có trái bời lời. Dân quê tôi trồng cây bời lời vì giá trị bởi từ lá, thân, vỏ đều được người ta bán. Không những thế người ta còn trích nhựa trái bời lời để làm sáp, xà bông. Lá vỏ cây bời lời còn được dùng làm thuốc nam chữa trị tiêu chảy hay chứng thiên đầu thống. Cây bời lời có giá trị hơn cây cò ke trong miền Nam nhưng trái bời lời nhỏ bắn súng ống thụt có trúng cũng không đau bằng trái cò ke.
Nghe chuyện chơi ống thụt của mấy người lớn tuổi, tôi mới biết thêm tên bời lời của trò chơi ống thụt mà hồi còn đi học tôi vẫn hay mua trước cổng trường. Ống thụt làm bằng thân ống trúc có hai phần, phần ống và phần thụt có gắn cây ti cắm vào phần cán ống thụt. Cây ti phải vót tròn, thẳng và chắc để khi thụt vào bắn trái cò ke hay bời lời mới bay được xa và nổ giòn. Muốn nổ cho kêu cái “bóc” phải chọn trái thật tròn, gắn chặt vào phần cuối ống, dùng cây ti ấn sâu vào một chút để lấy đà đưa cây thụt vào đẩy mạnh. “Đạn” bay cái vèo trúng vào người tuy không đau lắm nhưng có khi để lại dấu tích trên người do bên trong trái cò ke hay bời lời đều có chất nhớt. Chất này có thể gây mẩn đỏ ngưa ngứa đối với những người da dễ bị dị ứng.

Nhảy dây trò con con gái tuổi thơ (Ảnh: Internet)
Có lần tôi và thằng bạn đi học mua ống thụt đem vào lớp. Nó thì thích ống to nên đạn dược cò ke cũng phải lựa riêng trái to. Thầy giáo sắp vào lớp rồi mà nó còn ngồi thử ống thụt, lấy trái cò ke to thì tiếc nên nó xé tờ giấy học trò mở bình toong đựng nước uống thấm ướt vo lại thành viên bi nhét vào ống thụt. Vừa lúc ông thầy đi vào lớp, lớp trưởng hô to: “Học sinh nghiêm”. Thằng bạn lớ quớ tay chân đứng dậy, thay vì cất cái ống thụt vô hộc bàn, nó lại nhấn cái thụt gây tiếng nổ giòn như tiếng pháo, viên đạn giấy bay thẳng dính lại mảnh giấy nhỏ ngay mắt kính cận của ông thầy. May là thầy đeo kính chứ không thì học sinh tụi tui được nghỉ học rồi. Thầy giáo nghiêm giọng bảo thằng bạn đem ống thụt cò ke lên làm “tang vật”, còn nó bị phạt quỳ gối một tiếng đồng hồ úp mặt vào tường sau tấm bản quay.
Ông thầy cầm trái cò ke đưa lên hỏi đám học sinh có biết trái gì. Học trò nam sinh thuở tiểu học tụi tôi đứa nào chẳng biết. “Cò ke ạ”. “Ngoài công dụng dùng trong loại thuốc Đông y chữa ho, sốt rét, cò ke còn có mặt trong tục ngữ dân gian. Em nào biết giơ tay lên”. Thằng bạn đang quỳ gối xoay người lại giơ tay xung phong nhanh như điện. Cả lớp ai cũng im lặng, thầy cho thằng bạn trả lời. “Bợm già mắc bẫy cò ke”. Thầy giáo nói tiếp: “Em giải thích được thầy cho về chỗ”. Thằng bạn ấm ớ: “Hồi ở dưới quê em thường theo chú em đi bẫy chim bằng trái cò ke, chim cu khoái ăn cò ke nên bị bẫy rập kẹp cổ, chim mắc bẫy cò ke chẳng con nào thoát chết, còn “chim bợm già” có bị mắc bẫy hay không thì em không biết”. Cả lớp ồ khiến ông thầy cười vui. Nhờ đó mà thằng bạn khỏi quỳ một tiếng. Ông thầy bắt đầu bài dạy bài mới về ý nghĩa sâu xa của tục ngữ dân gian.
Dù cách nhau một thế hệ những trò chơi của mấy ông bạn lớn tuổi còn ảnh hưởng sang đến lứa tuổi chúng tôi. Bắn súng bẹ chuối trận giả, ống thụt cò ke nhưng chắc không vui bằng ngày trước khi người ta còn bày các trò vui này ở miền thôn quê, không gian rộng rãi, tha hồ chạy chơi đánh trận giả. Ba má tôi cấm chơi trò ống thụt, lỡ “tên bay đạn lạc” trúng vào người ta thì phiền nên tôi có vui chơi với bạn bè cũng chỉ là lén lút. Bắn bi hay tạt lon, nhảy đo gang (nhảy cao đo bằng gang tay) sau này nhảy cao giăng ngang bằng dây thun vừa tiện nhảy dây luôn thì được phép. Nhảy dây cũng hấp dẫn bọn con trai chúng tôi sau cái thú nhảy lò cò, banh chuyền, banh đũa những trò chơi thuộc về con gái. Chỉ có trò “cởi truồng tắm mưa” là bọ con gái chẳng khoái tí nào. Bọn nhóc tì nhỏ tuổi hơn tôi thì hồn nhiên thích chí mỗi khi cơn mưa đột ngột kéo đến giữa trưa hè oi bức.
Chắc người mê nhạc đều biết bài “Hoa trắng thôi cài lên áo tím” do nhạc sĩ Huỳnh Anh phổ nhạc từ bài thơ của thi sĩ Kiên Giang. Ông còn là nhà soạn nhiều tuồng cải lương trước Năm Châu nữa. Hồi năm 1970 ông hứng chí hồi tưởng viết bài “Tuổi tắm mưa” nhớ lại chuyện ở truồng tắm mưa tận đâu vào năm 1941 để tặng cố nhân: “Đường vuông ngắn bao quanh là lồng chợ / Từ tuổi nô đùa bát ngát bao la / Em mười tuổi, anh mới mười ba / Ở truồng tắm mưa không hề ngờ ngợ…”. Té ra ông nhà thơ hồi xưa còn bạo hơn các thiếu niên ngày nay.
Ký ức những trò chơi tuổi nhỏ còn nhiều nhưng bắn súng giả hay thụt cò ke nay không còn thấy đâu nữa. Chắc tại thời buổi văn minh hiện đại có quá nhiều trò chơi điện tử ngồi chơi tại nhà mà vẫn vui không cần chúng bạn.
TN









