Nguyễn Đức Nhân, sinh năm 1951, là con trai út của một gia đình nông dân, tại làng Phong Nhị, xã Điện An, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.

Thi ca của tác giả Nguyễn Đức Nhân mang đậm âm hưởng ký ức, nỗi hoài niệm về quê hương miền Trung, tình yêu thiên nhiên và những chiêm nghiệm sâu sắc về cuộc đời.Một số đặc điểm nổi bật và tác phẩm tiêu biểu của ông gồm:Phong cách sáng tác: Giọng thơ mộc mạc, trữ tình nhưng ẩn chứa chiều sâu triết lý. Ngôn ngữ thơ giản dị, bám rễ sâu vào phong cảnh làng quê và những biến cố thời cuộc. NGUYỄN & BẠN HỮU

Vài dòng hồi ức của tác giả

Bắt đầu những năm trung học đệ nhất cấp, tôi đã tập tò làm thơ, tìm đọc mê say các tác phẩm thơ văn tiền chiến, các tạp chí đương thời: Phụ Nữ Diễn Đàn, Phổ Thông, Giữ Thơm Quê Mẹ, Quê Hương…

Năm 1966, vào Saigon, học chương trình trung học đệ nhị cấp, ban C, ban văn chương, tại trường trung học tư thục Trường Sơn. Một trường tư thục hội tụ nhiều giáo sư văn nghệ sĩ – giáo sư tên gọi các thầy cô dạy trung học lúc bấy giờ – như thầy Vũ Khắc Khoan, kịch tác gia; Nguyễn Sỹ Tế, biên khảo; Thanh Tâm Tuyền, nhà thơ lớn; Nguyễn Xuân Hoàng, nhà văn… Chính tại ngôi trường tư thục nầy, tâm hồn yêu văn nghệ trong tôi đã được đốt nóng.

Đầu năm đệ tam, lớp 10 bây giờ, tôi có làm 3 bài thơ trên giấy học trò và rụt rè đưa cho thầy Thanh Tâm Tuyền xem thử, thầy kẹp vào sổ tay màu đen; gần một tháng sau, tôi chờ mãi chẳng thấy thầy nói gì. Thật bất ngờ, tôi thấy 3 bài thơ mà tôi rụt rè đưa cho thầy xem trong tháng trước, đã được đăng trên nguyệt san Vấn Đề số 24 (?) – Nguyệt san Vấn Đề do nhà văn Mai Thảo hay kịch tác gia Vũ Khắc Khoan làm chủ bút nay tôi không còn nhớ nữa – bày bán tại sạp báo trên đường Nguyễn Huệ, quận 1. Thấy tên mình trên tạp chí lớn, tim tôi hồi hộp, hoa mắt, bủn rủn chân tay. Chưa hết năm học, thầy Thanh Tâm Tuyền nghỉ dạy, tôi rủ người bạn thân đến dài phát thanh và truyền hình quân đội để thăm thầy. Thầy dẫn chúng tôi đến CLB để uống nước. Thầy không bao giờ dùng cùng loại thức uống với chúng tôi. Tôi kêu cà phê thì thầy kêu đá chanh. Lần khác, tôi kêu đá chanh thì thầy kêu cà phê. Tất nhiên là thầy trả tiền. Thầy hút thuốc “Bastos xanh” hết điếu nầy đốt điếu khác.

Xem thêm:   Đọc ‘Cùng Nhau Đất Trời’ của Khánh Trường

Tại đài phát thanh quân đội, thầy giới thiệu tôi với nhà thơ Viên Linh, nhạc sĩ Nhật Trường Trần Thiện Thanh và nhiều văn nghệ sĩ khác.

Thầy khích lệ tôi sáng tác, từ đó, tôi mạnh dạn gởi sáng tác đến các tạp chí lúc bấy giờ và tôi có thơ đăng trên Tuổi Ngọc, Diễn Đàn, Khởi Hành, Vấn Đề, Thời Tập, Văn, Văn Nghệ, Trình Bày, Bách Khoa.

Nguyễn Đức Nhân 

Nguyễn Minh Nữu viết về  Nguyễn Đức Nhân

Nguyễn Đức Nhân, Mây Trên Đỉnh Tà Ngào

Năm 1970, Nguyễn Đức Nhân được coi như một tài năng mới, lạ và trẻ trên văn đàn với những bài thơ sâu lắng về cõi người. Tôi gặp và quen anh qua bộ y phục nâu sậm của một tu sĩ. Thực lòng không nhớ ai là người giới thiệu khi Nhân đến chơi với Đoàn Văn Khánh và tôi ở nhà Khánh ở khu Bàn Cờ, quận 3, Saigon. Cuộc trò chuyện không dài, chúng tôi còn quá trẻ khi ở tuổi 17, 18 yêu thích văn chương nhưng mới chỉ là những bước khởi đầu nên mới chỉ là văn nghệ. Hình như lúc đó Nhân đang học trung học Trường Sơn nằm trên đường Lê Văn Duyệt gần ngã tư Lê Văn Duyệt và Hồng Thập Tự (bây giờ là Xô Viết Nghệ Tĩnh và Nguyễn thị Minh Khai). Trong những bạn cùng học lúc đó với Nhân còn có những người cầm bút sau này nữa như Trần Thanh Liêm Kiều Linh Giang đã mất, Trịnh Ngọc Minh (Trịnh Y Thư) đang chủ trương một nhà xuất bản ở California.

Nguyễn Đức Nhân khuôn mặt hiền lành, chân chất, nói năng chậm rãi và khiêm cung. Thơ của Nhân cũng là những bày giãi đôn hậu về cuộc đời, về cuộc người và cả cuộc chiến đang rập rình đâu đó ngoài khung cửa lớp học.

Xem thêm:   Đọc và nhận định về Trang Châu

Bài thơ đầu tiên mang tên tác giả Nguyễn Đức Nhân được đăng tải trên tạp chí Vấn Đề số 24 năm 1969 là do đích thân nhà thơ Thanh Tâm Tuyền, lúc đó là giáo sư dạy về văn học cho Nhân ở Trung học Trường Sơn, chuyển tới nhà văn Mai Thảo đang là người chủ trương, đã tạo nên một chú ý đáng kể với những người trẻ cầm bút thời bấy giờ.

Kỷ niệm không nhiều, nhưng quả thật tên Nguyễn Đức Nhân và phong cách của lần gặp đó đã ghi trong tôi cái thiện cảm và nhớ lâu dài.

Sau lần gặp đó, chúng tôi không có một liên lạc nào với nhau. Rời mái trường trung học, chúng tôi tản mác bốn phương trời, có đứa vào đại học, có đứa đi du học, có đứa vào chiến tranh rồi lưu lạc bốn phương trời. Tôi không còn ở Saigon, và mỗi đời sống có một sóng gió riêng, có gặp lại nhau đúng là phải một cơ duyên nào đó.

Gần 50 năm sau, bất ngờ đọc được một bài thơ của Nhân trên trang Văn Học Nghệ Thuật Phạm Cao Hoàng. Mới đầu tưởng chỉ một trùng tên, nhưng hơi thở của bài thơ nghe thân quen thật nhiều:

Bao lần mây trắng bay qua

Anh chìm đâu giữa bao la muôn trùng

(Thất Mùa, Sông Buông, Đồng Nai 1976)

Cái cảm giác gần gũi của câu thơ và ngay tên bài thơ Thất Mùa viết năm 1976 bỗng dưng gợi trong tôi cái gì đó đồng cảm và chia được cảm xúc của một mùa thanh niên thất bát khi chúng tôi lớn lên. Khi hỏi Phạm Cao Hoàng, Nguyễn Đức Nhân là ai vậy? Hoàng cho biết một tác giả ở Bảo Lộc, do Nguyễn Thanh Châu giới thiệu.

Bất ngờ sao, từ trên Facebook tôi nhận được lời kết bạn của Nguyễn Đức Nhân với lời nhắn “Thấy tên rất quen, phải bạn bè cũ không?” Tôi vui mừng nhắn lại “Có phải trước 75 là một Sa Di không?” Và chúng tôi nhận ra nhau, với trí nhớ mù mờ của tuổi lão niên vẫn rạo rực cái ân tình ngày cũ. Bồi hồi nhắc chuyện ngày xưa và khao khát có dịp chuyện trò.

Xem thêm:   Nhà thơ Nguyễn Phan Thịnh Độc Hành Lặng Lẽ Với Xa Xôi*

Đất rừng lên liếp trồng rau

Có ngày bạn ghé cùng nhau tâm tình

Đãi cơm rau luộc linh đình

Cá khô, mắm ớt thật tình quá sang

Dẫn nhau tắm suối chiều tàn

Lên đồi cao ngắm trăng vàng non xa

Ở rừng, nhớ bạn thiết tha

Quẩn quanh ta với bao la muôn trùng

(Xới Đất Trồng Rau, Tưởng Đến Ngày Bạn Ghé Thăm)

Nguyễn Đức Nhân tranh Nguyễn Sông Ba

Những bài thơ lênh đênh trên dòng ký ức của Nguyễn Đức Nhân

– Ở rừng, về thăm chốn cũ. sài gòn

Về thăm chốn cũ — Sài gòn

Thấy  mình nhếch nhác, sạm giòn nắng mưa

Sờ cằm, râu mọc lưa thưa

Bước chân trĩu nặng nghìn xưa rừng già

Bóng rừng quẫy đạp trong ta

Đêm thao thức, nhớ non xa nắng tàn

Về thôi, đêm tím đại ngàn

Thôi về, thở ánh trăng vàng thiên thu

– Đêm mưa rừng, trên đường về

Đường rừng mưa gió đêm đông

Mong về nhen bếp lửa hồng ngồi hơ

Mong về nhìn lửa ban sơ

Bập bùng lửa sáng hồn thơ bên rừng

Rửa rau rừng bên suối vắng

Vào rừng tìm hái chưa nhiều

Rau chưa đầy giỏ, nắng chiều dần vơi

Rửa rau, suối mát tuyệt vời

Vui tay vớt bóng mây trời lao xao

Đêm khuya, dậy ngắm trăng tà

Chiều nghe dế gáy bên hè

Rừng xanh gần gũi, bạn bè đã xa

Đêm khuya dậy ngắm trăng tà

Hoang vu một cõi, ôi, ta nhớ người

– Dựa gốc cây, đọc trang sách cổ

Dựa cây ngồi đọc sách xưa

Đọc xuyên ngữ nghĩa gió mưa ngàn đời

Lan man đọc cả bóng trời

Lần theo bóng chữ gặp người cổ xưa

Nhờ cậy

Em về đất Quảng quê xưa

Gởi lời thăm hỏi gió mưa thế nào

Mùa màng thu hoạch ra sao

Thất mùa khổ lắm đồng bào quê tôi

 

Xa quê thì đã xa rồi

Nhớ quê nhìn bóng mây trời bay qua

NDN – 2026