Tôi không biết ngôi nhà từ đường bên ngoại có từ khi nào. Chắc lâu lắm. Mẹ nói, đó là ngôi nhà do ông cố xây, rồi truyền qua bao đời, đến ông ngoại tôi thì vẫn giữ nguyên dáng. Mái ngói âm dương lợp chồng, tường đất rêu phong, và bốn hàng cột mun đen bóng loáng, mỗi cây to gần bằng một vòng tay người lớn. Ngôi nhà đứng giữa khu vườn rộng, bao quanh là cau, và những loại cây ăn trái như vú sữa, mãng cầu, ổi, bơ… và mấy khóm trầu xanh phủ kín lối đi bên hàng cau, cây chùm ngây…
Mùa mưa, lá trầu trơn nhớt, bóng người soi xuống như trong giấc mộng.
Nhà có ba gian lớn. Gian giữa là bàn thờ tổ. Gian bên trái là nơi để thuốc, ăn ở, và sinh hoạt. Gian bên phải là nơi tiếp khách, dụng cụ làm thuốc của ông ngoại.
Tôi còn nhớ rõ cái mùi hăng hắc của thuốc bắc, mùi của quế chi, nhân sâm, đương quy, thục địa, kỷ tử, hoàng kỳ, đinh hương, bạch chỉ… quyện trong khói nhang, thứ mùi mà mỗi lần nhớ lại, tôi nghe như trong lồng ngực có tiếng trống dội thình thịch của quá khứ.
Ông ngoại tôi là thầy thuốc bắc nổi tiếng nhất vùng Xóm Rượu, Khánh Hòa. Người ta gọi ông là “ông lang có tay Phật.” Trước 1990, bệnh nhân đến nườm nượp. Họ ngồi chờ kín sân, người ngậm cam thảo, người cầm giấy hốt thuốc, kẻ mỏi mòn hy vọng.
Ông bắt mạch, tay bệnh nhân đặt trên cái gối nhỏ, đôi mắt khép hờ, như nghe nhịp tim người bệnh bằng chính linh hồn mình.

Bảo Huân
-oOo-
Mỗi dịp hè, tôi đều về nhà ngoại chơi. Đến năm mười hai tuổi, những kỳ nghỉ ấy không còn chỉ là những ngày rong chơi nữa. Tôi chính thức trở thành người phụ giúp ngoại. Công việc hằng ngày của tôi là rửa ly tách trên bàn thờ, vò thuốc, phơi thuốc, và nấu thuốc bổ máu. Những việc nhỏ bé ấy khiến tôi cảm thấy mình thật có ích, như đang góp một phần vào nghề gia truyền của dòng họ Huỳnh.
Buổi chiều, khi nắng đã nghiêng qua hàng cau, tôi ngồi lặng nhìn ông cân thuốc. Từng nhúm thuốc khô rơi xuống mặt bàn gỗ, phát ra tiếng va chạm khẽ khàng, như lời thì thầm của thời gian. Thỉnh thoảng, tôi ngồi bên hông nhà, lắng nghe tiếng chim bạc má chíu chít đuổi nhau trong cái lồng lớn, thấy lòng mình nhẹ tênh và yên bình đến lạ.
Nhà từ đường có ba cánh cửa. Hai cửa hông thường mở, còn cửa chính giữa luôn khép. Mỗi lần trước khi về nhà ngoại, mẹ tôi luôn dặn:
– Đó là cửa của tổ. Chỉ mở vào ngày Tết, không được tùy tiện mở.
Tôi từng tò mò đứng ngắm qua khe cửa, chỉ thấy bóng tối đặc quánh, lấp lánh ánh vàng của những bức hoành phi. Có lần tôi hỏi cậu tôi:
– Sao không mở ra cho sáng, cậu?
Cậu chỉ khẽ đáp:
– Cái sáng đó không dành cho người sống đâu con.
Bên phải căn nhà từ đường, ở hướng Tây, là nơi bào chế thuốc cũng là nơi ở và sinh hoạt của gia đình giòng họ. Còn phía trái, hướng Ðông là phòng bắt mạch. Sau lưng phòng bắt mạch có một căn phòng nhỏ để bệnh nhân nghỉ ngơi cũng là phòng dành cho tôi mỗi khi mùa hè đến. Hướng Tây nhà từ đường vì thế lúc nào cũng có tiếng chày giã thuốc, tiếng bếp đun rì rầm, và cả những tiếng tí tách của bếp lửa than hồng khẽ khàng mỗi trưa.
Nhưng giữa những tiếng động ấy, có thứ im lặng không bao giờ dứt. Sự im lặng từ gian giữa. Dù đèn nhang vẫn cháy, tôi luôn cảm thấy có ai đó đang ngồi trong ấy, nhìn ra.
Cậu Út tôi hơn ba mươi tuổi mới lập gia đình. Mợ Út trẻ, đẹp, nhưng tính cách thẳng thắn. Mợ và bà ngoại hai không hợp nhau. Một bên khó đoán, một bên thẳng đến mức làm người ta khó chịu. Những chuyện nhỏ trong nhà như bát nhang nghiêng, như bình trà hết nước cũng có thể hóa thành cớ để cãi nhau.
Ông ngoại vốn là người cứng rắn nên không thích chuyện va chạm giữa “mẹ chồng nàng dâu”. Nên ông quyết định đập gian Đông, để xây tầng lầu cho bà ngoại hai ở riêng.
Ông bảo:
– Sống mà không yên thì chữa bệnh cho ai được. Nhà cao, sáng sủa, mới có phước.
Cả họ Huỳnh phản đối. Ông ngoại chú nói:
– Ông phá gian Đông là phá long mạch. Từ đường là nơi tổ trú ngụ, không ai được xây cao hơn.
Ông ngoại tôi cười nhạt:
– Tổ tiên thương con cháu chứ không chấp chuyện nhà nào cao hơn, lớn hơn. Với lại, gia đình tao cần một không gian rộng hơn để sống và tiếp đãi khách khứa.
Nhưng từ ngày đội công nhân bắt đầu khởi công, tiếng búa đập vào bức tường đất vang lên nặng nề như tiếng trống tang.
Đêm đó, tôi nghe rõ ràng có tiếng ai khóc trong gian thờ. Khi tỉnh dậy, tôi thấy mợ Út đang ngồi thắp nhang, gương mặt tái nhợt.
Tôi khẽ hỏi:
– Chuột phá thóc hả, mợ Út?
Mợ Út đáp, giọng nhỏ như gió lướt qua:
– Không phải đâu con… Mợ thấy ác mộng mà cậu Út con đi chơi chưa về….
Căn nhà mới ở phía Đông mọc lên, cao hơn mái nhà từ đường đến một tầng lầu, được hoàn thành vào mùa gió chướng sau hơn một năm xây dựng. Khi hoàn tất, tường được sơn vàng, trần nhà gắn những tấm laphông thếp vàng lấp lánh, trông như một cung điện nguy nga, xa hoa. Ban công rộng rãi, luôn đón gió mát. Bà ngoại Hai có một phòng riêng trên tầng lầu, nơi ban công thoáng đãng nhìn ra hàng cau xanh mướt. Cậu mợ Út vẫn ở dãy phòng phía Tây, nhưng đã dựng thêm một chái bếp và nhà vệ sinh riêng, hoàn toàn tách biệt với dãy nhà hướng Đông, nơi ông bà ngoại sinh sống. Còn tôi, vẫn ngủ trong căn phòng nhỏ phía sau bức tường của phòng bắt mạch.
Nhưng sau khi xây cất căn nhà phía Ðông xong, ông ngoại ít cười hơn. Ông hay ngồi trầm ngâm nhìn cánh cửa giữa đã khép kín. Lâu lâu lại thở dài như mang trong lòng một nỗi buồn không gọi thành tên. Một chiều, khi nắng vừa tắt, tôi nghe ông khẽ nói với cậu Út:
– Nhà này… hình như không còn thở nữa, con à.
Ngôi nhà mới mái ngói đỏ au, tường sơn vàng rực rỡ như một lời thách thức giữa khu vườn cổ đã quen với màu rêu trầm tĩnh. Ông ngoại bảo đó là “ánh sáng mới của nhà họ Win”… Nhưng từ ngày ấy, dường như mọi thứ quanh ngôi nhà từ đường đều trở nên khác lạ.
Ban đêm, con chó mực vốn hiền lành bỗng tru lên từng hồi dài mỗi khi gió thổi từ hướng Đông sang. Có hôm, nó nằm rạp xuống, gầm gừ nhìn về phía tầng lầu, nơi bà ngoại hai vẫn thắp ngọn đèn ngủ suốt đêm không tắt. Có lần, cậu tôi đi chơi khuya về, kể rằng đôi khi nghe tiếng gõ mõ vang lên từ gian thờ, dù cánh cửa giữa vẫn khóa chặt.
Cậu nói:
– Cậu chỉ nghe ba tiếng… Cốc… cốc… cốc… như ai đang tụng kinh trong mơ.
Ông ngoại gắt:
– Mày thì tối ngày chẳng lo làm ăn, hết bi-da lại cà phê, nhậu nhẹt thâu đêm suốt sáng rồi trông gà hóa cuốc… nghe tiếng gió lại tưởng tiếng người!
Nhưng ngay cả ông cũng không giấu nổi vẻ bồn chồn. Những buổi chiều sau đó, ông hay ra ngồi ở hiên, đôi mắt đục nhìn xa xăm, khói thuốc bắc quẩn quanh như mây khói.
Cậu Út, giờ đã đổi nghề. Cậu không còn làm ở kho bạc nhà nước nữa. Cậu chăm chỉ học nghề bốc thuốc. Nhưng bệnh nhân ngày một thưa. Người ta bảo, “thuốc của ông tôi nay nhạt rồi.”
Công việc sa sút, tiền ít dần.
Trong gian thờ, nến thường tắt giữa chừng.
Có hôm, mợ Út đang dọn bàn, bất ngờ la to:
– Ai đụng vào tôi!
Nhưng quanh đó chẳng có ai.
Tôi nhớ đêm đó, mưa đổ ào ào, gió rít qua mái ngói. Tôi tỉnh dậy vì tiếng sấm. Trong khoảnh khắc chớp lóe, tôi thấy qua khe cửa giữa, một bóng người đi ngang qua bàn thờ, lưng thẳng, tóc búi cao, mặc áo dài đen. Tôi rú lên. Khi mợ chạy qua bật đèn, không còn gì ngoài hương khói mờ ảo.
Sáng hôm sau, ông ngoại lên tầng lầu để sửa dây điện bị hở mạch. Tôi vẫn nhớ tiếng kêu của ông. Một tiếng thét ngắn, nghẹn trong mưa. Khi mọi người chạy đến, ông nằm co quắp bên chân cầu thang, đôi tay cháy sạm. Ông may mắn sống sót, nhưng từ đó đi lại khập khiễng. Căn phòng tầng trên trở nên im lặng.
Sau tai nạn, ông như già đi mười tuổi. Ông giao hết công việc bắt mạch hốt thuốc cho cậu Út. Ông thường ngồi trên tấm phản, nhìn ra cửa, đôi mắt lờ đờ, buồn rười rượi. Ông thở dài nói với cậu:
– Có lẽ, ba sai rồi.
Cậu Út cố nối nghề, nhưng thuốc không “linh.” Người uống vào bệnh không thuyên giảm, người khác bảo “uống như nước lã.” không đậm đà, thanh mát như xưa. Cậu hoang mang, cố gắng gượng nghề gia truyền.
Mợ Út thì thở dài:
– Thời nay người ta đi bệnh viện hết rồi, ai còn tin thuốc Bắc. Nhà này cứ tin chuyện tổ tiên, đến khổ.
Không khí trong nhà đặc quánh như mùi thuốc héo. Cậu Út đứng giữa hai bên, chỉ biết im. Đêm nào cậu cũng thắp nhang cho ông bà, tổ nghiệp, nhưng nhang cháy được nửa que thì tắt.
Năm tôi mười bốn tuổi, bắt đầu hiểu chuyện của người lớn; chuyện mẹ ghẻ con chồng và mẹ chồng nàng dâu…
Mỗi khi đi ngang gian giữa từ đường, tôi cảm giác như có ai đang nhìn từ trong ra.
Một lần, tôi nghe tiếng ông gọi:
– Tí ơi… lại đây.
Nhưng khi quay lại, ông vẫn ngồi yên, mắt lim dim. Tôi run, không dám nói với ai.
Rồi dần dần, ông bắt đầu mơ nhiều. Ông bảo, mỗi đêm có người đàn ông mặc áo dài đen đến ngồi đối diện, không nói gì, chỉ nhìn ông, rồi biến mất khi gà gáy. Bà ngoại hai sợ, mời thầy pháp về xem. Ông thầy vừa bước qua ngưỡng cửa đã khựng lại, trán rịn mồ hôi.
– Tôi không dám làm lễ ở đây. Nhà này có người xưa chưa đi.
Từ hôm ấy, bà ngoại hai thắp nhang mỗi sáng. Khói bay lên, cuộn quanh bàn thờ, thành hình như dải lụa.
Mợ Út càng thêm khó chịu, nói nhỏ với cậu:
– Sống trong cái nhà này ngột ngạt quá.
Cậu chỉ im.
Năm tôi mười lăm tuổi, tôi trở về ngoại chơi trước khi cùng gia đình sang Mỹ. Mỗi tối, tôi ngồi trong gian Đông của căn nhà mới, nhìn ra phía nhà từ đường, tối om. Ánh đèn hắt lên tường, tạo thành bóng hai mái chồng lên nhau: mái mới sáng rực, mái cũ đen sẫm, như hai linh hồn đang chồng chất, đấu tranh trong cùng một không gian.
Một đêm, tôi dậy rót nước cho ông. Trong ánh đèn dầu leo lét, tôi thấy đôi mắt ông lặng lẽ nhìn xa xăm. Ông nói:
– Tổ tiên là gốc. Gốc mà bị chặt, cây sẽ chẳng còn xanh.
Tôi hỏi:
– Ngoại có hối hận không?
Ông cười buồn:
– Cái sai của mình là mình nghĩ giỏi hơn tổ tiên. Nhưng hóa ra, chính tổ tiên mới là người giỏi hơn.
Cuối hè năm đó, trời lại nổi giông. Tiếng gió rít qua khe mái nghe như tiếng người thở dài. Đèn trong gian thờ vụt tắt, rồi bỗng sáng bừng trở lại, hắt ra qua khe cửa giữa. Ánh sáng vàng nhạt, mờ ảo như ánh lửa trong tim người hấp hối.
Sáng hôm sau, trên bàn thờ, lư hương đổ nghiêng, tro vương vãi khắp mặt bàn thờ gỗ.
Cậu ngồi sụp xuống, lẩm bẩm:
– Tổ nhắc rồi… Nhà này sắp có chuyện.
Mùa hè năm đó là mùa hè cuối cùng tôi còn về ngoại là mùa mưa dài nhất trong ký ức. Những đợt mưa như trút, ngày nối ngày. Khu vườn trũng nước, lá cau ngả rạp, rêu xanh loang lổ trên những bậc gạch cũ. Nhà từ đường ẩm thấp, cánh cửa giữa vẫn khép kín, chỉ còn nghe tiếng nhỏ giọt đều đều từ mái ngói rêu phong.
Ông ngoại nằm liệt trên giường, ánh mắt đục mờ. Ông không còn nói nhiều, chỉ ngước nhìn gian giữa mỗi khi ai đó thắp nhang.
Cậu tôi dặn:
– Đừng để cửa chính mở. Ngoại sợ tổ chưa nguôi giận.
Nhưng chính tôi, vào một đêm khuya, đã mơ thấy cánh cửa ấy tự bật ra. Trong giấc mơ, ánh sáng hắt ra từ bên trong. Không chói, mà ấm lạ thường, như có hàng trăm linh hồn đang tụ lại. Tôi thấy ông ngoại trẻ lại, mặc áo dài đen, ngồi bắt mạch cho ai đó. Mùi thuốc bắc tỏa quanh, và giọng ông thì thầm:
– Căn nhà phía Ðông phải thấp và nhỏ hơn nhà từ đường… Nếu không, dòng máu này sẽ tắt. Con cháu họ Huỳnh sẽ khổ…
Tôi giật mình tỉnh giấc. Ngoài hiên, mưa vẫn rơi, lẫn trong tiếng sấm là tiếng mõ cốc cốc vọng ra từ gian nhà từ đường.
Sáng hôm sau, cậu Út mắt trũng sâu, nói rằng đêm qua lại mơ thấy ông tổ. Ông đứng giữa gian thờ, tay chỉ lên tầng lầu hướng Đông, nói:
– Bỏ đi mái nhà kia.
Cậu Út run run kể lại cho ông bà ngoại nghe. Ông lặng người, rồi khấn vái lia lịa, nước mắt rơi ướt áo. Còn bà ngoại hai thì cười nhạt:
– Mộng mị thôi, thời nay ai còn tin mấy chuyện đó.
Hôm sau, bà ngoại hai trở về thăm quê. Như mọi năm, bà đi hai lần: một lần cuối hè, một lần đầu xuân. Ông ngoại ở lại. Cả ngày hôm đó, ông uống rượu và nằm trên tấm phản gỗ bóng láng, mắt nhìn xa xăm qua nhà từ đường.
Gió thổi phần phật qua khe cửa, hương nhang phảng phất, như khói người vờn quanh gian nhà.
Buổi sáng hôm sau đó, tôi thức dậy đi mua thức ăn ngoài đầu ngõ để mang qua cho ngoại. Khi đi ngang căn nhà phía Đông, tôi thấy ông ngoại nằm im dưới đất, bên cạnh tấm phản gỗ. Tôi thất kinh, hét gọi cậu mợ. Nghe tiếng, cậu mợ tôi ở dãy nhà phía Tây chạy qua.
Ông ngoại đã ra đi trong đêm ấy. Tim ngừng đập, đôi mắt vẫn mở trừng, như còn muốn nhìn vào bên trong.
Đám tang diễn ra giữa mưa phùn. Người làng đến, viếng. Một vài người thầm thì với nhau và tôi vô tình đi ngang nghe được:
– Tổ nghiệp nặng quá. Ai đời căn nhà phụ mà xây cao, to lớn hơn căn nhà tổ? Nhìn chẳng giống ai… Giòng họ Huỳnh này chắc sẽ là họ bại quá…
-oOo-
Ðám tang ông ngoại tôi xong, gia đình tôi rời khỏi quê hương đến một đất nước mới.
Sau vài năm, tôi nghe cậu tôi kể lại rằng bà ngoại hai suy sụp. Bà thường ngồi bên bàn thờ, miệng lẩm nhẩm:
– Con biết lỗi rồi… Bây giờ mọi chuyện đã lỡ… Con xin các ngài tha cho con cháu…
Cậu tôi còn kể, từ ngày ông ngoại mất, đêm nào trong gian giữa cũng thoang thoảng mùi thuốc bắc mới. Người ta bảo linh hồn ông vẫn về bắt mạch cho bệnh nhân.
Thời gian sau, bà ngoại hai cũng mất. Bà trút hơi thở cuối cùng cũng trong một cơn gió lớn.
Sau tang lễ của bà ngoại hai, cậu mợ tôi dọn qua dãy nhà phía Đông, còn khu nhà phía Tây bị bỏ hoang. Tường ẩm mốc, cột gãy, cỏ mọc um tùm trên sân. Thỉnh thoảng, người đi qua vẫn nghe tiếng mõ “cốc cốc” vọng ra từ bên trong, như nhịp tim của căn nhà già nua ấy chưa bao giờ ngừng đập.
-oOo-
Hai mươi năm sau, tôi trở về. Con đường dẫn vào Xóm Rượu đã đổi khác. Những dãy nhà cao tầng mọc san sát nhau. Ngôi nhà từ đường của giòng họ Huỳnh giờ lọt thỏm trong một cái hốc, như rơi xuống một hố sâu khổng lồ không đáy.
Tầng lầu bên Đông đã bạc phếch, rêu xanh bám kín trên tường. Nhưng gian từ đường giữa nhà vẫn kiên cố, dù lọt thỏm dưới sâu. Căn nhà như một cụ già khòm lưng, chống gậy vững chãi để chống lại thời gian. Tôi tiến lại gần, tay run run chạm vào cánh cửa giữa. Cánh cửa không khóa. Chỉ khẽ đẩy, nó mở ra nhẹ nhàng, không phát ra tiếng kêu, như đã chờ đợi từ rất lâu. Ánh sáng buổi chiều hắt vào, vẽ nên những lớp bụi mờ mờ. Bàn thờ cũ vẫn còn nguyên, chỉ khác là gỗ sậm màu hơn, còn dòng chữ trên bức hoành phi “Tổ Tông Công Đức Thiên Niên Thịnh” mờ đi nửa vế.
Tôi thắp ba nén nhang. Khói bay lên, quấn thành những vòng tròn nhỏ, rồi bất ngờ uốn cong, như đôi tay đang nâng đỡ. Lạ thay, khói không tan mà cứ xoay quanh ngọn đèn dầu, như linh hồn muốn gửi lời gì đó. Tôi khẽ gọi:
– Ngoại ơi…
Không có tiếng đáp, chỉ nghe tiếng mõ vang vọng từ chiếc máy thu thanh cũ.
– Cốc… Cốc… Cốc……
Tôi quỳ xuống, đặt tay lên nền gạch bông, lạnh buốt. Bỗng nhiên, mọi chuyện ùa về… Tuổi thơ phơi thuốc, tiếng gió thổi qua hàng cau, ánh mắt hiền từ của ông, nụ cười chua chát của bà ngoại hai, và giọng cậu Út nghẹn trong khói nhang…
Tôi hiểu ra, lời nguyền của ngôi nhà chưa bao giờ là trừng phạt. Nó chỉ là lời nhắc:
– Đừng quên nguồn cội. Đừng phá vỡ truyền thống dân tộc nếu chưa khấn vái và xin phép vong linh tổ tiên… trước khi phá dỡ…
Chính chúng tôi, con cháu, đã tự đánh mất sợi dây ấy, khi nghĩ rằng chỉ cần mái mới là đủ. Nhưng căn nhà không phải chỉ là ngói và tường; nó là ký ức, là niềm tin, là linh hồn của bao thế hệ đã đi qua.
Tôi cúi đầu, khấn khẽ:
– Con xin hứa, sẽ giữ lại ngôi từ đường này. Không xây cao hơn, không phá bỏ, chỉ dọn sạch để nó được thở lại.
Bên ngoài, mưa dứt. Ánh hoàng hôn xuyên qua hàng cau, rọi lên mái ngói rêu xanh. Những vệt sáng vàng run rẩy phủ lên bàn thờ, phản chiếu lên bức hoành phi mờ nhạt. Dòng chữ như sống dậy: “Thiên Niên Thịnh.”
Khói nhang xoắn lại, rồi tan ra, bay lên theo luồng gió nhẹ. Trong thoáng chốc, tôi nghe như có tiếng ông cười: trầm, ấm, và xa xăm.
Tôi biết, tổ tiên đã tha thứ.
Và ngôi nhà ấy, từ nay, lại bắt đầu thở.
VP







