Những ngày hè cháy bỏng ở Ninh Hoà luôn bắt đầu bằng tiếng ve rền rĩ trên những bụi tre và những luồng gió mằn mặn từ con sông Dinh lững lờ trôi ngang xóm Rượu. Hè nào tôi cũng về quê ngoại phụ việc: phơi thuốc, vò thuốc, nấu thuốc, kì cọ từng chai thủy tinh để đựng thuốc bổ máu. Bàn tay lúc nào cũng dính mùi thuốc Bắc, còn lưng áo thì ướt đẫm mồ hôi từ sáng đến trưa.
Nhưng hễ vừa nghỉ tay một chút, tôi lại cùng đám bạn trong xóm: thằng Tín, con Mén, thằng Hạnh chạy bộ ra sông Dinh để tắm. Nước sông thuở ấy tuy có đoạn ô nhiễm do người ta xả rác, đôi khi còn thấy cả xác động vật trôi lềnh bềnh, nhưng vẫn có vài khúc sông trong veo, yên tĩnh, như giữ lại vẻ đẹp cuối cùng của những mùa hè nơi thôn dã.
Tôi năm đó mười ba tuổi, gầy nhẳng, đen nhẻm, nhưng bơi lặn thì ít ai trong xóm qua mặt được. Mỗi buổi chiều, được lao mình xuống dòng nước mát rượi là cảm giác sung sướng nhất đời. Tôi thích nhất là tiếng nước róc rách chảy qua những khe đá, như tiếng mùa hè đang thở dưới lòng sông.
Người lớn thường dặn không được lại gần những đoạn nước sâu, nơi có dòng xoáy ngầm. Nhưng tụi nhỏ tụi tôi lại hay tưởng tượng: dưới sông Dinh có những “cánh cổng nước” dẫn đến những chốn kỳ bí.
Hè năm ấy nóng đến mức hơi đất bốc lên mịt mù như khói. Chiều hôm đó, thằng Tín rủ tôi ra tắm ở một đoạn sông sâu, gần bờ tre, nơi người ta nói ít ai dám bơi ra giữa dòng.
Tín nhảy ùm xuống trước. Tôi bỏ dép, để trên bờ và lao xuống theo, lặn dài một hơi. Nước mát lạnh quấn lấy người, dễ chịu đến mức nổi gai.
Tôi lặn sâu đến độ mọi âm thanh biến mất, chỉ còn tiếng tim mình đập thình thịch. Nhưng khi đang định trồi lên lấy hơi, tôi cảm giác rõ ràng có thứ gì đó nắm chân mình. Một lực lạnh, mạnh, như tay người.
Hoảng hốt, tôi đạp mạnh, cố ngoi lên mặt nước.

Bảo Huân
Vừa trồi lên, thở không ra hơi, tôi thấy cậu Đen, người lớn hơn tôi vài tuổi, đang đứng trên bờ, nhìn tôi với ánh mắt rất khác:
– Tắm sông Dinh đừng có lặn sâu. Mấy đứa nhỏ không biết đâu, có đoạn nước kéo luôn người ta chứ chẳng chơi.
Tôi run run hỏi:
– Sao vậy cậu?
Cậu Đen nhìn dòng nước lờ đờ:
– Dưới sông có dòng ngầm mạnh lắm. Lặn trúng nó là bị hút xuống… khó ngóc đầu lên.
Tôi nghe mà lạnh sống lưng. Nhớ lại cái cảm giác bị kéo chân, tim vẫn còn thót lại từng nhịp.
Chiều hôm đó, sau khi tắm ở sông Dinh về, ngồi dưới mái hiên nhà ngoại, tay vò những viên thuốc tễ để phơi khô. Mùi thuốc Bắc ngai ngái quyện với hương nắng chiều, khiến không gian trở nên lặng lẽ. Trong lúc làm, tôi nhìn thấy bóng ông Sáu lững thững bước vào sân.
Ông Sáu, hàng xóm thân thiết của ông tôi, là người bạn vong niên từng tham gia các cuộc kháng chiến, và bàn chân từng bị thương vì giẫm phải mìn. Mùa hè nào ông cũng ghé sang, uống trà, trò chuyện cho vui. Sân nhà ngoại tôi mát rượi nhờ thềm xi măng luôn rợp bóng và hàng cau cao thẳng tắp xào xạc trong gió. Giữa cái nắng oi bức của Ninh Hòa, đó là nơi hiếm hoi có gió mát luồn qua.
Vừa ngồi xuống trước bậc thềm tam cấp, ông cất giọng khàn khàn:
– Hồi trưa nghe nói bây đi tắm sông Dinh hả?
Tôi gật đầu, kể lại cảm giác như có ai đó nắm chân kéo xuống khi lặn dưới lòng sông. Ông Sáu nghe mà không hề tỏ ra ngạc nhiên. Ông rít một hơi thuốc lá sâu, khói trắng chầm chậm bay rồi tan vào không khí.
Ông nói chậm rãi:
– Ở trên con sông Dinh này, chuyện lạ thiếu gì. Tụi nhỏ tụi bây nghịch nước, thấy gì cũng không lạ đâu. Nhưng nhớ nghe… dưới sông không chỉ có cá.
Ông nhìn xa xăm về phía sông, nơi hoàng hôn nhuộm đỏ mặt nước như chén trà lỡ tay làm vỡ, tràn ra cánh đồng.
– Hồi kháng chiến, vùng này ác liệt lắm. Nhiều người chạy giặc không kịp, té xuống nước, bị lũ cuốn. Người ta nói dưới đáy sông có vài chỗ sâu bất thường, sâu đến mức không ai đo nổi. Người xưa gọi đó là “hố trầm”. Nước xoáy dữ lắm. Ai rớt vô là khó mà nổi lên.
Ông dừng lại, mắt nheo lại như nhớ về một điều xa xôi lắm.
– Năm nào cũng có người chết đuối ở khu sông đó. Bây tắm cẩn thận, rất nguy hiểm.
Lời ông khiến sống lưng tôi lạnh toát, như dòng nước lạnh quấn quanh. Lạ thay, nỗi sợ ấy không làm tôi bỏ chạy, mà lại xen lẫn cảm giác tò mò mơ hồ, như thể bên dưới mặt nước lung linh kia, có một thế giới khác đang gọi tôi bằng hơi thở của nó.
Đêm rằm tháng Bảy năm đó, tôi xin phép ngoại, dì và cậu qua nhà thằng Tín xem phim Võ Lâm Ngũ Bá, rồi ngủ lại. Trăng sáng đến mức sân loang loáng ánh bạc, cây cối như phủ một lớp sương mỏng.
Hai đứa nằm trong gian nhà nhỏ lợp tôn, nhưng tôi trằn trọc mãi không ngủ được. Không hiểu do trăng sáng hay tiếng chó tru tréo ngoài góc tre bên bờ sông.
Từ xa, tôi nghe tiếng nước. Không phải dòng nước chảy lờ đờ thường ngày, mà là tiếng bì bõm, như ai đang lội giữa đêm. Tôi bật dậy, nhìn ra khoảng sân mờ ánh trăng. Sân sau vắng lặng, không bóng người.
Tín mở mắt, giọng ngái ngủ:
– Mày bị gì vậy?
Tôi nuốt nước bọt:
– Tao nghe tiếng nước… nghe giống tiếng ai kêu lắm.
Tín càu nhàu:
– Phía sau nhà tao là sông Dinh mà. Đêm xuống nghe tiếng nước chảy là bình thường. Thôi ngủ đi.
Tôi lắc đầu:
– Không… tao nghe rõ tiếng người…
Tín ngồi dậy, nghiêng đầu lắng nghe. Chỉ vài giây sau, mặt nó cũng tái đi:
– Ờ… tao cũng nghe.
Hai đứa nhìn nhau. Không ai nói ra, nhưng đều hiểu: phải đi xem.
Chúng tôi len lén mở cửa, bước chân trần xuống lối mòn giữa hai hàng chuối sau nhà. Gió từ lòng sông thổi lên lạnh buốt, khiến lông tay, chân tôi dựng ngược, rợn lạnh sau gáy. Tiếng gió rít xuyên qua những bụi tre kêu cọt kẹt răng rắc, như than thở của ai đó giữa đêm khuya thanh vắng.
Khi đến sát bờ, bỗng nhiên mọi âm thanh biến mất. Nước phẳng lặng, không một gợn sóng. Cả khúc sông như đang nín thở chờ đợi.
Tín nắm tay tôi, bóp mạnh đến đau:
– Ê… coi kìa…
Dưới ánh trăng mờ, bên mé sông, một bóng người ngồi bất động, tóc dài phủ kín mặt. Trước bóng đen, ba đốm sáng đỏ lập lòe, nhấp nháy như những con mắt lạ lùng. Dọc bờ sông, vài vệt sáng bập bềnh trôi, lung linh và chập chờn. Khi cơn gió thoảng qua, ánh sáng lóe lên đỏ rực, rùng rợn đến mức tôi muốn hét lên mà không dám.
Chúng tôi quay đầu bỏ chạy, không dám ngoảnh lại, tim đập như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực.
Sáng hôm sau, khi tôi trở về nhà, đem chuyện tối qua kể lại cho cậu Ðen nghe, cậu ngồi nhấp một ngụm trà, nhíu mày, rồi chậm rãi nói:
– Mấy năm trước, ngay chỗ mấy đứa thấy tối qua, người ta từng tìm thấy xác một cô gái nhảy cầu Dinh, trôi xuống và mắc lại trong bụi tre ven bờ. Nghe nói, những ngày rằm gia đình cô gái thường ra sông thắp nhang, cúng vái cho linh hồn con bé.
Tôi chớp mắt, cố nuốt cơn rùng mình xuống cổ họng, rồi hỏi khẽ:
– Vậy… còn mấy vệt sáng lập lòe trôi trên sông tối qua thì sao, cậu?
Cậu Ðen nhắm mắt, gật gù, giọng trầm hẳn xuống:
– À… chắc là khi họ cúng xong, họ thả những bè chuối nhỏ, đựng mâm cơm và nhang đèn xuống sông. Những vệt sáng đỏ lập lòe mấy đứa thấy, chính là ánh lửa từ nhang cắm trên bè, trôi theo dòng nước, lắc lư, nhấp nháy, như đang dẫn đường cho linh hồn con gái ấy trở về.
Cậu im lặng một lúc, rồi tiếp tục:
– Dòng sông này… không phải lúc nào cũng yên ả đâu. Có những đêm, khi trăng sáng, gió thổi qua, bóng tối dọc bờ nước và ánh sáng lập lòe sẽ hiện ra. Mấy đứa trẻ con nhìn thấy, tưởng là chuyện ma quái, nhưng thực ra… chỉ là cách linh hồn và người sống giao tiếp, như một nghi lễ âm thầm giữa hai thế giới.
Tôi nghe mà da gà nổi lên từng đợt, tim đập nhanh, nhưng đồng thời một nỗi tò mò lạ lùng cũng nổi dậy. Câu chuyện của cậu Ðen không những không làm tôi sợ bỏ chạy, mà còn khiến tôi muốn một lần nữa đến bờ sông, để tận mắt nhìn những vệt sáng đỏ đó, để nghe tiếng nhang cháy và lòng sông thì thầm giữa đêm thanh vắng.
Còn ít ngày nữa là nhập học. Tôi chuẩn bị trở về lại với gia đình, sách vở trong balô và nỗi nhớ dai dẳng về con sông Dinh. Gần hai tháng qua, sau cái đêm rằm đầy ám ảnh ấy, tôi chưa dám tắm sông một lần nào. Sông Dinh giờ trong tôi vừa là nơi chơi đùa tuổi thơ, vừa là một thế giới bí ẩn mà tôi không dám bén mảng.
Sáng nay, con Yuki, con chó già trung thành của ông tôi, vừa qua đời. Dù ông rất thương nó, nhưng theo phong tục mê tín trong làng, ông không dám chôn. Người ta tin rằng nếu chôn, linh hồn con chó sẽ không siêu thoát, sẽ vương vấn, bám theo nhà chủ, khiến ông không thể nuôi thêm con chó nào khác. Cách duy nhất là thả xác nó ra sông, để thân xác trở về với tự nhiên, nuôi sống cá tôm.
Ông tôi nhìn tôi với đôi mắt trầm buồn:
– Kéo nó ra sông đi, để xác nó trôi ra biển… cá tôm sẽ ăn, linh hồn nó mới yên.
Buổi trưa, dòng sông Dinh lững lờ chảy, phản chiếu ánh nắng như dát bạc trên mặt nước. Tôi khệ nệ kéo xác Yuki xuống bến, đặt nhẹ lên mặt nước. Chốc lát, con Yuki trôi ra giữa dòng, thân hình nhỏ bé như vừa hòa vào sự rộng lớn và tĩnh lặng của con sông. Tôi đứng lại, không muốn rời mắt. Gió lùa qua mặt, mang theo mùi nước sông, mùi cỏ cháy khô và một cảm giác vừa buồn vừa lạ lùng.
Bỗng nhiên, cạnh mé sông, tôi thấy những chiếc thuyền nhỏ làm bằng bẹ chuối, trên đó đặt vài món thức ăn đã ôi thiu, nhấp nháy trong nắng trưa. Những chân hương màu đỏ vàng còn cắm trên bẹ chuối trên một vài chiếc thuyền khiến tôi chợt nhớ đến những gì mình đã nhìn thấy vào tháng trước: những vệt sáng lập lòe trôi dọc sông, và bóng người thấp thoáng dưới lòng nước.
Tôi đứng đó một lúc lâu, hít thật sâu, để tất cả cảm giác hòa vào nhau: nắng, gió, tiếng nước vỗ, mùi thuốc Bắc, và cả một chút gì đó mơ hồ, như hơi thở của những linh hồn vẫn còn lặng lẽ sống trong con sông này.
Đến bây giờ, khi đã lớn, tôi vẫn nhớ mùa hè tuổi 13 ấy; tiếng ve râm ran trên mái nhà, mùi thuốc Bắc nồng nàn, nắng gắt tràn khắp sân, tiếng nước sông vỗ bờ, tiếng cười của bạn bè… và cả những bóng người mờ ảo dưới lòng sông mà tôi chẳng biết có thật hay chỉ là tưởng tượng. Nhưng tôi biết chắc một điều; sông Dinh không chỉ mang nước qua làng. Nó còn mang theo tuổi thơ tôi, mang theo những khoảnh khắc ngây ngô, rùng mình và cả những bí ẩn mà chỉ tuổi trẻ mới dám đối mặt. Và, lặng lẽ, nó giữ lại những linh hồn đã qua đời, những bóng người trôi nổi trên mặt nước, vẫn ở lại với dòng sông… như những chứng nhân thầm lặng của thời gian và ký ức.
VP









