Một lần, hoàng hôn chợt tím, khi Tim Nguyễn lái xe qua chiếc cầu cao thành phố Baton Rouge…

Chợt nghe khúc hát: Bên bờ sông Mississippi ta ngồi ta hát, nhớ về vầng trăng như khuôn mặt em rạng ngời trên sóng. Ôi, vầng trăng trên sông Mississippi mà ta đã nhìn thấy ngày nào. Có bao giờ gặp lạI… Hình như Trương Nhược Hư có viết: Hà xứ xuân giang vô nguyệt minh… Thế nhưng, với ta dường như chỉ có vầng trăng trên sông Mississippi là lộng lẫy nhất, đáng nhớ nhất.

Về lại New Orleans lần này, Tim Nguyễn cũng mong tìm được một vầng trăng như trong khúc hát trên nhưng mây và mưa trong đêm đã che kín bầu trời. Tìm trăng. trăng khuất đã lâu. Ca từ trong tiếng hát một thời đã xa.

Vâng. Về lại New Orleans lần này, Tim lại được dịp ngồi uống cà phê ở Café du Monde. Buổi chiều thật đẹp! Tim vừa thưởng thức cà phê vừa ngắm nhìn những chiếc xe ngựa đậu trước quảng trường Jackson Square và nhà thờ Saint Joseph. Ngay trước Café du Monde, một anh chàng da đen đang hát khúc hát buồn của những nghệ sĩ jazz vùng New Orleans.

Sau ly cà phê và chiếc bánh beignet thơm lừng, Tim tôi cùng gia đình đi dạo chơi trên Con Đường Trăng Moonwalk dọc bờ sông. Buổi chiều nắng nhẹ. Hải âu bay trên công viên, đáp xuống các thảm cỏ. Một đôi hải âu đậu ngay trên đỉnh tượng đài Di Dân – Immigrants, cất tiếng kêu. Chúng kêu vì vui chung trong niềm vui của người tứ xứ về đây dạo chơi trên đường trăng hay chúng kêu vì nhớ đất trời rộng lớn còn đọng trên đôi cánh? Hay vì “chiều nay biết về nơi đâu / dừng chân ta ngắm cảnh bao la sầu?!” (Lời Du Tử)

Về đâu? Về đâu?… Tim tôi ngước nhìn lên tượng đài. Bố mẹ và hai đứa con – một con còn bồng ẵm trên tay mẹ, một con bố dắt đi sát ngay bên cạnh và là một bé trai. Thoáng chốc, lòng Tim chùng xuống. Ôi, họ đến từ đâu vậy? Từ nước Pháp hay Đức hay Ăng Lê? Họ có bị truy bức không hay chỉ vì muốn đi tìm một chân trời mới, khoáng đãng hơn và nhiều cơ hội hơn? Bản thân Tim này cũng là di dân cho nên dễ thông cảm với những người mẫu của tượng đài. Trong trí tưởng rất ư là lếu láo của mình, Tim hình dung thấy những khốn khó của các di dân. Sao buồn đến thế này, em ơi và các bạn ơi. Ôi, thế kỷ của rào cản của những đường ranh và những biên thùy có chó săn và súng đạn. Đã lâu rồi, ở những ngày khốn cùng và tuyệt vọng khi còn trong nước, nhìn trăng Tim nhớ đã có viết:

Xem thêm:   Sài Gòn, bình minh mưa

ta thấy. ôi. mây trời ảo biến

dưới trăng. lấp lánh bãi hằng sa

đất ơi. nỗi lầm than muôn kiếp

nhân loại. đi như những bóng mờ

nhân loại yêu đời trong nỗi chết

vượt biên thùy. sa mù. và mưa

từng nơi. đi dưới triền hoe nắng

gùi nặng. mang theo cả lợn gà

riêng lão già điên còn ở lại

đêm đêm. ra nhìn dòng sông. ca

Tượng đài Di Dân New Orleans

Thế đó, các bạn ơi, chúng ta nào có muốn nhưng đều bị xô vào nghịch cảnh. Cái cột đèn kia nếu biết đi thì nó cũng phải bỏ nước ra đi thôi! (Ôi, anh Trần Văn Trạch, anh nói một câu hay quá, mãi mãi sẽ còn nhắc tới) Vâng, thế đó. Tim tôi có thể hình dung thấy, ở những ngày đầu tiên trên nước Mỹ này, đôi vợ chồng kia đều phải lao vào công việc. Chồng làm trong garage sửa xe hơi chẳng hạn, và vợ thì làm ở một hãng assembly, còn cậu con trai được đi học ít lâu rồi cũng nhảy ngang ra đi làm -bồi bàn nhé- để phụ giúp bố mẹ. Chỉ cô bé (?) còn bế trên tay là được học hành đầy đủ, để rồi sau này cô nhập vào dòng chính và trở thành nổi tiếng (như Leyna Nguyên), phải không? Rồi thời gian trôi qua, tới thế hệ thứ hai thứ ba, tất cả sẽ trở thành Americans như bao gia đình người Mỹ ta gặp chung quanh.

Tim tôi gần đây cũng đã được xem ảnh chụp một tượng đài thuyền nhân ở Cali gồm vợ chồng con cái rách nát tả tơi, đưa bàn tay tuyệt vọng về phía chân trời. Tượng đài gây nhiều cảm xúc trong lòng mỗi người chúng ta.

Xem thêm:   Thời nhỏ, sướng và khổ

Xin nhắc lại: Thế kỷ vừa qua là thế kỷ của di dân. Họ phải vượt qua nỗi chết để tìm ra đất sống. Trên freeway số 5 ngày nào, từ San Diego đi Santa Ana, Tim đã được nhìn thấy tấm bảng vẽ một gia đình Mễ “vượt biên thùy sống chết”, gồm vợ chồng và đứa con gái dắt tay nhau chạy qua đường băng. Sao khốn khổ và liều lĩnh đến thế, nhưng suy cho cùng cũng là vì sự sống thôi, cũng như các thuyền nhân Việt Nam đã tạo nên một khúc quanh lịch sử của đổ vỡ, chia ly.  Ôi, Việt Nam, từng là nỗi đau xé trong tôi / Sao tôi khóc lúc ra đi / Phương đỏ một lời yêu dấu cũ / Là lúc chia xa… Và rồi, chúng ta đứng lên. Từ những mảnh vỡ, chúng ta đứng lên. Và trên những vùng đất của thế giới, đã có những thư viện, trung tâm giáo dục và giải trí, những khu phố những thiền viện nguy nga của người Việt. Tất cả hiện lên sức sống và vẻ rực rỡ, khiến những quý ông Cộng Sản phải lớn tiếng tuyên dương “khúc ruột ngoài ngàn dặm”. Thật không còn danh từ nào để nói về họ nữa! Riêng với cộng đồng người Việt ở hải ngoại, Tim này ước mong rồi đây ở những thành phố lớn như Washington DC, Houston, Dallas, San Jose, Westminster, Boston, Atlanta… mỗi nơi đều có tượng đài thuyền nhân, gồm gia đình hai vợ chồng và hai đứa con áo quần tóc tai tơi tả. Tượng đài này sẽ nói với mai sau về sự có mặt của chúng ta trên đất này.

Còn nhớ trong một đoản văn tiệp ký, kẻ này có viết như sau về New Orleans:

“Cảng New Orleans từng nổi tiếng với những con tàu nằm mơ sóng trùng khơi. Người Việt bỏ xứ, ra đi từ những làng chài lưới ven biển quê hương, tụ tập về đây sống thành từng làng với nhau và còn giữ nếp sống của quê nhà. Đặc biệt ở khu Versailles, có những dãy phố của người Việt. Ở đây, người ta thấy có sự nhếch nhác quen thuộc, chứ không được khang trang như ở Cali hay Houston, Dallas. Có những xe tôm, xe rau bán ở vỉa hè. Có những thanh niên tóc dài, những người đàn ông mặt mày xiêu xó – hình như là lính tráng thời xưa. Họ ngồi uống bia trên góc phố và chào người qua lại. Ở đây, người ta gặp cả người da đen, da màu vào ra mua bán. Chung quanh, trong khu làng người Việt, người mình trồng rau trên sân nhà, đằng trước và đằng sau, gợi những hình ảnh quen thuộc đã mất hút trong thời gian. Nhiều nhà có tượng Đức Mẹ trước sân. Tim và bà xã ngày ấy đã đi xem chợ chồm hổm của người Việt trong khu Versailles. Chợ họp từ 5 giờ sáng và tan sau 8 giờ. Ở đây, người mình bày bán đủ thứ rau, trái cây, tôm cá, lòng heo, bánh mì thịt, gà vịt… Có những bà cụ già ăn mặc theo lối Bắc cổ truyền, ngồi bán vài mớ rau, trái mướp, trái bầu hoặc trầu cau. Bán chừng đó đâu được bao nhiêu, nhưng các cụ lấy làm vui vì có dịp sống lại không khí làng xóm quê nhà. Tiếng nói cười dậy cả một vùng. Tim tưởng mình đang ở chợ Vườn Chuối hay chợ Hòa Hưng ngày nào.”

Xem thêm:   Đà lạt. hương trà tường vi

Thế đấy… khu phố Versailles với quán sách Kim Anh và chợ chồm hổm và quán cà phê Chiều Tím bên góc nhà thờ. Bây giờ tất cả còn không, ở khu phố đó, góc đường đó… Xin hỏi chàng nhạc công da đen sống trong căn nhà gỗ gần New Orleans, đã có lần tấu lên khúc nhạc giang hồ nơi bến cảng…

Deep down Louisiana close to New Orleans

Way back up in the woods among the evergreens

There stood a log cabin made of earth and wood

Where live a country boy named Johnny B. Goode

Who never ever learned to read or write so well

But he could play the guitar just like a ringin’a bell…

Ôi, New Orleans của Tim ngày nào, còn không sau cơn bao Katrina hở các bạn.

TN