Nhà phê bình Thụy Khuê từng trả lời phỏng vấn của tạp chí điện tử Da Màu về danh xưng của Văn học Hải ngoại. Giới thiệu đến bạn đọc bài phỏng vấn này qua sự cho phép của Thụy Khuê. Do tuần san Trẻ là báo giấy in nên số trang có hạn, đành bỏ câu hỏi đầu tiên của Đặng Thơ Thơ. Riêng với cá nhân tôi, có lẽ tên đúng nhất của Văn học Hải ngoại vào lúc này nên là danh xưng “Văn học Zombies”; vì chỉ còn là một xác chết tuy nhúc nhích động đậy nhưng không sinh khí.

[Trần Vũ]

Nhà biên khảo Thụy Khuê 

Kỳ 2

Đặng Thơ Thơ: Hiện nay Văn học Hải ngoại hoàn toàn được mạng hóa (online). Có lẽ, chỉ trừ tạp chí “Ngôn Ngữ” do một số các văn nghệ sĩ ở Canada chủ trương, tuyệt đại đa số các tạp chí văn chương hiện nay đều là online. Theo ý cô, hiện tượng này có ảnh hưởng thế nào đến việc sáng tác và thưởng ngoạn văn chương, cũng như trong việc hợp lưu hai dòng văn chương trong và ngoài nước như Khánh Trường và nhiều nghệ sĩ hải ngoại khác đã từng mơ ước qua tạp chí Hợp Lưu trước đây?

Thụy Khuê: Việc đưa các tác phẩm lên mạng, những người làm văn học đã thi hành từ khá lâu rồi. Đặc biệt nhất là diễn đàn Talawas của Phạm Thị Hoài, ra đời năm 2001 và ngừng hoạt động năm 2010. Ngoài sinh hoạt văn chương và tranh luận văn học đương thời, Talawas còn là kho lưu trữ quan trọng nhất từ trước đến giờ về đủ các thể loại văn học, từ các tác phẩm của Tự Lực văn đoàn, phong trào Nhân Văn Giai Phẩm đến Văn học miền Nam, và Văn học đổi mới.

Cùng thời kỳ này, có hai cơ sở báo mạng khác, được nhiều người biết đến là Tiền vệ do nhóm Nguyễn Hưng Quốc ở Úc chủ trương (2002-2021) và Da Màu do Phùng Nguyễn, Đặng Thơ Thơ và Đỗ Lê Anh Đào thành lập ở Mỹ từ năm 2006. Hiện nay chỉ còn lại Da Màu, là tờ báo mạng có uy tín, thuần túy văn chương, hoạt động bền bỉ đã 19 năm, không dao động. Phùng Nguyễn qua đời năm 2015. Đặng Thơ Thơ làm chủ bút từ đầu, giữ vai trò của Thạch Lam trong báo Ngày Nay thuở trước: đọc, chọn bài và hướng dẫn các nhà văn trẻ (xem bài phỏng vấn Tru Sa).

Việc các báo “bắt buộc” phải lên mạng là chuyện dĩ nhiên, vì không có tiền in, không có cơ sở bán báo và không có người đọc, như trước nữa. Hiện tượng này đã trở thành thực tại từ gần 20 năm nay, và sự hợp lưu hai dòng chảy trong và ngoài nước cũng cần phải lên mạng để được truyền bá nhanh chóng.

Sự hợp lưu đã manh nha từ trước khi Khánh Trường cho ra đời Hợp Lưu, và đã trở thành con sông lớn với Hợp Lưu, Tạp Chí Thơ, rồi dần dần chính Nguyễn Mộng Giác cũng thay đổi thái độ, Văn Học cũng in các tác giá trong nước, cùng với các báo khác như Thế Kỷ 21 của Lê Đình Điểu vv… Cho nên có thể nói những “mơ ước của Khánh Trường và những văn nghệ sĩ hải ngoại ngày trước”, đã trở thành thực tại từ ngày ấy đến bây giờ.

Xem thêm:   Old Sacramento

Chỉ cần đọc Da Màu gần đây thôi, ta thấy bài của các tác giả nổi danh của Văn học miền Nam như Trùng Dương, Trần Thị NgH… xuất hiện bên cạnh những tên tuổi mới, ở trong nước, như nhà văn Thu Phong với loạt truyện ngắn rất đặc biệt, như Mặt cắt rất lạ, có cấu trúc hội họa, thi ca và điện ảnh. Hay những truyện ngắn của Tru Sa, đã được Tạ Duy Anh khám phá ở trong nước, Đặng Thơ Thơ nhận diện và chăm sóc từ mấy năm nay. Vừa rồi, giáo sư Nguyễn Huệ Chi cũng gửi bài, hình như lần đầu thì phải. Chưa kể những nhà văn hải ngoại như Đỗ Khiêm, Ngu Yên, Nguyễn Đức Tùng, Hoàng Chính vv… vẫn không ngừng sáng tác. Vì tôi vùi đầu vào biên khảo nên không có thì giờ đọc hết các tác phẩm hay để giới thiệu, xin các nhà văn thứ lỗi. Nhưng tôi chắc chắn rằng: việc người viết (và người đọc) ở hải ngoại giảm đi, vì lớp trước đã qua đời, đã già, hoặc đã bỏ cuộc, và lớp sau không còn rành tiếng Việt, nhưng nhờ internet, Văn học hải ngoại hiện nay vẫn còn sống, với những người đích thực gắn bó với văn chương, ở trong và ngoài nước.

Đặng Thơ Thơ

Đặng Thơ Thơ: Theo quan sát của cô, có sự giao thoa nào giữa văn học hải ngoại và văn học trong nước không, và sự giao thoa đó diễn ra như thế nào?

Thụy Khuê: Sự giao thoa là tất yếu của văn chương, giữa người trong một nước hay với nhiều nước. Giao thoa chính là sự đọc. Khi tôi bắt đầu viết phê bình, hai vấn đề tôi phải học đầu tiên là ngữ học, để hiểu bản chất của mỗi chữ và việc đọc, để hiểu tác dụng của sự đọc trong văn chương và trong đời sống con người: Đọc thấy câu văn nào lạ, hình ảnh nào đẹp, ý tưởng nào hay, chúng ta đều ghi lại trong đầu, việc này tự nhiên như ăn và thở. Ở người đọc bình thường, đọc xong có thể quên để làm việc khác. Ở nhà văn, nhà thơ, khi viết, cái sổ đã ghi trong đầu ấy, tự động nó sẽ phát sóng, nếu để lâu, không nhớ hết, chỉ nhớ mang máng cũng đủ, và như vậy ta đã tự cung cấp một thứ «chất liệu» cho mình, nếu ta bỏ thêm phần của ta vào, nó sẽ trở thành một hợp chất mới, và đó cũng là một trong những thủ pháp của sáng tạo, cái đó cũng gọi là sự giao thoa. Tôi còn nhớ nhà thơ Nguyên Sa khi trả lời phỏng vấn của Nguyễn Mạnh Trinh có kể ông đã học cách Nguyễn Du, Nguyễn Gia Thiều… “làm mới” chữ nghiã như thế nào.

Xem thêm:   Xi nê ngày ấy

Ở những người không đọc thì không có giao thoa. Còn đọc ai là tùy mình muốn hiểu ai, hiểu vấn đề gì. Thí dụ người ta đọc Mùa Biển Động của Nguyễn Mộng Giác để hiểu xã hội miền Nam trong chiến tranh. Đọc hồi ký Trần Dần ghi để hiểu xã hội miền Bắc thời kỳ Nhân Văn Giai Phẩm, vv… Đọc Dương Nghiễm Mậu để thấy những thế giới bí mật, phân cực, hợp lưu, không ngừng trong trí não con người. Nếu không đọc thì không biết, giống như người đút nút lỗ tai, không nghe đời sống quanh mình. Thực ra văn chương nó kiêu kỳ lắm, mình đọc nó thì chỉ có lợi cho mình: mình học nó. Còn không đọc thì không vỡ khối ngu, nó cũng mặc kệ.

Tru Sa kể một lô toàn các tác giả miền Nam. Tôi nhớ ngày trước Nguyễn Bình Phương cũng nói vào Sài Gòn có đọc các tác phẩm của miền Nam. Tôi cho rằng đối với nhà văn, việc đọc là cốt yếu, vì có lợi ích thực tiễn: đọc để biết, để không viết sai, còn chịu ảnh hưởng của ai hay không là chuyện khác. Thường thường người ta chịu ảnh hưởng mà không biết, thí dụ những người viết ở miền Nam chịu ảnh hưởng văn phong, cách ngắt câu của Mai Thảo rất nhiều, tôi cũng vậy. Nguyễn Tuân, Mai Thảo là hai nhà văn làm mới chữ Việt.

Nguyễn Bình Phương tự tạo ra một thế giới huyền ảo trong những tác phẩm đầu để che sự khốc liệt trong tiểu thuyết của mình. Những tác phẩm sau, dễ hiểu hơn, nhưng cũng vẫn ghê gớm không kém. Hai tác phẩm sau cùng, Kể xong rồi đi (2017) anh nói chuyện với chó vì không thể nói với người, Một ví dụ xoàng (2022), anh mô tả những bạo liệt phía sau của một xã hội được tiếng là đạo đức và nhân ái; chỉ cần với một câu, người con dâu nhẹ nhàng trả lời bố chồng: «hôm nay con chưa sạch», đủ cung cấp cho ta cảm giác phẫn uất hãi hùng pha trộn buồn nôn. Chắc chắn không phải Nguyễn Bình Phương chỉ chịu ảnh hưởng văn chương hiện thực miền Bắc. Nhưng để hiểu Nguyễn Bình Phương, người đọc cũng phải có một trình độ nào đó. Hiện nay, các tác phẩm giá trị của Văn học hải ngoại chưa có điều kiện để in ra đầy đủ ở trong nước, lên mạng chỉ là một giải pháp lỗ mỗ, tạm thời, nên ta chưa thể bàn đến sự giao thoa, có lẽ phải đợi vài chục năm nữa chăng?

Xem thêm:   Miệng Nhà Quan ngày 16 tháng 4 năm 2026

Đặng Thơ Thơ: Theo ý, liệu chúng ta có thể nói đến khái niệm “triển vọng” của văn chương hải ngoại hay không trong thời điểm hiện nay?

Thụy Khuê: Văn chương hải ngoại hiện nay, như trên tôi đã nói, người viết ở hải ngoại ít đi, nhưng người viết ở trong nước tăng lên, cho nên vẫn còn phong phú và đa dạng, chỉ cần đọc Da Màu cũng thấy điều đó. Hiện thời chính sách kiểm duyệt mạng ở trong nước cũng bớt gay gắt, có nhiều nơi ở miền Nam, đọc được các mạng, trước cấm, như Da Màu, Diễn Đàn Thế Kỷ, Diễn Đàn, Văn Việt vv… Trong tình trạng mọi sự đang được cải tiến dần dần như thế, hy vọng Văn học Việt Nam sẽ sớm tái hiện với toàn bộ các nhà văn Nam, Bắc, trong, ngoài, trong thế kỷ qua, đúng như Trần Dần mong muốn: khi đất nước thống nhất thì độc giả sẽ gấp đôi, từ năm 1954.

Triển vọng của văn chương hải ngoại cũng là triển vọng của văn chương Việt Nam, tôi muốn được hiểu như vậy.

Đặng Thơ Thơ: Mời cô bổ sung thêm những nhận định khác về VHVNHN, nếu có.

Thụy Khuê: Tôi chỉ xin nói thêm một câu về việc này, không trực tiếp liên quan đến Văn học Việt Nam Hải ngoại, nhưng gián tiếp: Sự vận hành của facebook.

Báo in và báo mạng chuyên về văn chương bây giờ còn ít lắm, người ta thích đọc và viết facebook, đó là lối sáng tác nhanh, truyền đến độc giả với tốc độ ánh sáng và cũng nhận được phản hồi tức thời. Tuy nhiên, viết nhanh, viết vội, không phải là phương pháp của văn chương, những bài đăng trên facebook phần lớn thường chỉ chở một số ít ý, không có văn, và đôi khi viết để chờ đợi sự hoan hô của bạn bè, như: Super! Tuyệt vời!

Nhưng văn bản facebook đã áp đảo môi trường đọc và viết, đã thay thế các truyện ngắn, mà nhà văn phải mất cả ngày đêm đôi khi chỉ để chọn một chữ. Rất tiếc, lối lao động viết văn này, ngày càng hiếm, và nếu Văn học Hải ngoại có “tàn lụi”, cũng nhờ bàn tay của facebook rất nhiều.

Câu chuyện đã dài, xin thành thật cám ơn Đặng Thơ Thơ và Da Màu.

Đặng Thơ Thơ: Cám ơn nhà phê bình/biên khảo Thuỵ Khuê đã dành thời gian để chia sẻ kiến văn và kinh nghiệm của cô với độc giả, cám ơn cô đã đặt lòng tin vào triển vọng của Văn Học Hải Ngoại và “bản lĩnh của chữ nghiã.” Đây là niềm khích lệ đáng trân trọng cho những người cầm bút hiện nay.

Thụy Khuê

Bruxelles, ngày 5-8-2025.