Những ngày đầu đặt chân lên đất Mỹ xa lạ, lại đúng vào thời điểm mùa đông giá lạnh. Thành phố Oklahoma City tương đối còn vắng vẻ, rất ít người Việt định cư ở đó. Tôi mướn một căn chung cư nhỏ bé, sống qua ngày. Ban ngày làm việc cực nhọc, thời gian qua đi rất mau, nhưng mỗi khi đêm về, tôi sợ hãi lắm, vì nằm trằn trọc hoài không ngủ được. Trong đầu luôn nghĩ về quê nhà, về bạn bè, người thân. Tôi thấy mình cô đơn hơn bao giờ hết, hơn cả những ngày còn rất bé bỏng, trong một làng quê hẻo lánh bên bờ sông quê nội, thuộc “Vùng Tề.” Thời chiến tranh Việt – Pháp trước 1954, “Vùng Tề” là cách gọi vùng đất bị người Pháp kiểm soát để phân biệt với “Vùng Tự Do” mà Việt Minh đã đặt được cơ sở. Ban đêm lính trong đồn có thể pháo bừa vào đó, ban ngày Việt Minh cũng làm như thế. Ngoài Bắc có câu “Ấm ớ hội tề”, chỉ mấy ông hội đồng làng tề ba hồi ngả bên này ba hồi ngả bên kia, tùy theo hoàn cảnh. Tôi đã chứng kiến những ngày điêu linh tan tác ở đó. Ðó là một làng nhỏ, thuộc tỉnh Thái Bình, chỉ cần đi bộ vài cây số đến bến đò Tân Ðệ, theo chuyến đò ngang, bên kia sông đã là thành phố Nam Ðịnh. Có lần tôi theo Nội qua Nam Ðịnh thăm người bà con, cả thành phố đóng cửa kín mít, vì đám Tây Lê Dương vừa đi hành quân về, nhiều đứa say rượu đập phá ngoài đường.
Nội có 5 người con, 3 trai 2 gái. Bác Cả hoạt động cho Quốc Dân Ðảng tận ngoài miền Trung đã đổi tên đổi họ biệt tích giang hồ. Chú tôi theo Việt Minh, thỉnh thoảng về thăm nhà ban đêm, chốc lát rồi đi. Có lần Chú về và xin với Mẹ cho tôi theo Chú qua bên “Vùng Tự Do”. Chú cõng tôi trên lưng, đi hằng chục cây số trong đêm tối, giữa những bờ ruộng, tiếng ễnh ương kêu vang bên tai. Tôi ngủ trên lưng Chú lúc nào không biết. Sáng thức dậy, thấy mình nằm trên chiếc chõng tre trong căn nhà lá xa lạ.

Tàu Há Mồm di cư 1954
Tôi học những lớp vỡ lòng ở đó, trong một đình làng, trẻ con chơi nhiều học ít. Học nửa buổi, còn nửa buổi ra cánh đồng bắt sâu trên những ruộng lúa mới trổ bông hay hái rau muống mang ra chợ bán gây quỹ cho đội (thiếu nhi). Ðêm đêm, xách “đèn chai” đi họp đội hay tập nhảy “son đố mì”.Tôi còn nhớ được vài bài hát đại khái như “Bác Hồ Chí Minh Là Mặt Trời” hoặc “Ðảng lao động Việt Nam, đảng của chúng ta, vì cơm áo tự do, ăn no nằm chết giữa đường…”. Tại sao lại ăn no nằm chết giữa đường? Dĩ nhiên do dân chúng đổi lời, nhưng bạn nghĩ xem có lý do chứ. Vâng, dân miền Bắc đói lắm! Có cả những bài ca tụng Liên Sô như “Dân Liên Sô, vui hát trên đồng xanh, đây bao la ánh nắng xuân chan hòa…”, đó là một cái bánh vẽ rõ to, bây giờ nhớ lại thấy vô duyên và kỳ cục. Mấy nhạc sĩ tác giả của những đứa con tật nguyền đó, chắc có lúc đã hối hận muốn vứt bỏ chúng nó đi, nhưng không có cách nào làm được. Như ông Tố Hữu có muốn vứt bỏ đứa con cùi lở què quặt cũng không làm được, nó theo ông đến muôn đời:
“Ông Sịt Ta Lin ơi, ông Sịt Ta Lin,
Hỡi ơi ông mất! đất trời có không?
Thương cha thương một, thương ông thương mười”
Ở với Chú một thời gian, một hôm Mẹ sang đón tôi về. Chỉ vài ngày sau, Pháp đi càn (hành quân) qua bên đó, chúng đốt nhà, Chú bị chết ngạt dưới hầm bí mật. Nếu Mẹ qua trễ chắc tôi đã đi theo chú mất rồi.

Hình chụp Đại Gia đình trước nhà ông nội tác giả ở làng HỘI KÊ tỉnh Thái Bình, khi có tin “Hiệp Định Đình Chiến” được ký kết, chuẩn bị ra đi. Ảnh tác giả cung cấp
Ba tôi ở Hà Nội nhưng hay về thăm quê nội, đôi khi đi thăm Chú hoặc lang thang qua những làng lân cận thăm bạn bè. Một hôm, tay đồn trưởng đám dân quân tự vệ sai lính bắt Ba đánh cho một trận rất nặng, lớn lên tôi vẫn còn thấy những vết sẹo trên người ông, lúc thả ra ông về ở hẳn Hà Nội, không dám bén mảng về quê nữa, vì cả hai bên đều nghi ngờ. Một thời gian sau, Việt Minh phục kích giết chết tay đồn trưởng trên đường ra bến đò Tân Ðệ. Trước hiệp định đình chiến năm 54, gia đình Nội lần lượt từng người bỏ trốn qua Nam Ðịnh. Tờ mờ sáng, Mẹ đội thúng như mang trầu ra chợ bán, dắt tay tôi đi nhanh trên con đường làng dẫn ra bến đò. Có vài người chào hỏi nhưng Mẹ chỉ ậm ừ vài câu và vẫn rảo bước không ngừng. Khoảng gần trưa, chúng tôi đến Nam Ðịnh, chiều hôm ấy, tất cả gia đình gặp nhau đầy đủ ở nhà một người bà con. Ban đêm, cả thành phố hoạt động rầm rộ trong bóng tối để chuẩn bị ra đi. Vài ngày sau chúng tôi theo họ lên mấy chiếc xe vận tải chờ sẵn trên con đường phía Bắc hướng đi Hà Nội.
Hà Nội những ngày chuẩn bị di cư, thật nhộn nhịp hối hả nhưng vẫn không mất đi vẻ đẹp đài các quyến rũ. Ðồ đạc, bàn ghế, quần áo cũ bày bán đầy đường. Ban đêm trai gái Hà Thành thanh lịch vẫn dẫn nhau đi dạo bờ hồ, ăn kem, tình tứ trò chuyện, có lẽ như những tử tù cố gắng thưởng thức bữa ăn sang trọng cuối cùng.
Thủ Ðô trong mắt chú bé nhà quê, thật là đẹp, không thể tưởng tượng nổi, cái gì cũng mới lạ hơn hẳn Nam Ðịnh như chú từng thấy. Tôi còn nhớ lần đầu tiên Ba mua cho cây kem (cà rem), tôi vừa cắn một miếng đã phun ra và quăng ngay xuống đất. Chú bé nhà quê, chưa từng được ăn cái gì lạnh như thế, giống như có con dao nhỏ giấu trong cây kem vừa đâm vào miệng, cũng có thể vì mấy cái răng sún nó nhát chú. Tôi vẫn thích nhìn về phía bên kia bờ hồ, có những đèn xe ô tô (xe hơi) ẩn hiện trong các lùm cây. Một món quà Ba cho tôi, quý lắm, tôi còn giữ rất lâu khi đã vào miền Nam, đó là cây viết cán bằng nhựa, trên cán có chỗ nhô hẳn ra, lộng vào đó là hình chiếc cầu rất nổi tiếng, cầu Long Biên. Nếu để đúng tầm nhìn, cây cầu sẽ hiện ra rõ ràng, như thật. Ðó là tất cả những gì tôi còn nhớ được về Hà Nội. Ở Hà Nội một thời gian ngắn, Ba tôi đưa cả đại gia đình đi Hải Phòng rồi lên “tàu há mồm” cập bến Nha Trang. Ba mẹ tôi đi Hội An còn tôi theo Nội và hai Bà Cô vào định cư ở thành phố ven biển từ đó. Tôi còn quá nhỏ để hiểu được những mất mát khi phải bỏ quê hương ra đi, hay những sợ hãi trốn tránh cả hai bên Việt Minh và Tây, nhưng quá quen thuộc với những chuyến đi bất chợt, vội vã trong đêm tối. Tôi đã có thể đi một mình trong đêm hằng vài cây số trên những con đường quê hẻo lánh không hề sợ hãi, mặc dù lúc đó còn rất bé, khoảng 7 hay 8 tuổi.

Tháng 10-1975 Oklahoma đã đầy tuyết nhưng vẫn áo thun mong manh. Ảnh tác giả cung cấp
Tôi lớn lên, học hành, ăn cơm gạo, uống nước Miền Nam, hưởng một đời sống ấm no, tự do. Dù là tự do có giới hạn, nhưng vẫn hơn rất nhiều các nước lân cận vùng Ðông Nam Á Châu. Những ngày thập niên 70, chiến tranh tàn khốc khắp nơi. Tôi cũng theo vận nước trôi nổi trên cả 4 Vùng Chiến Thuật. Rồi thảm họa 30 tháng Tư ập đến, lại một lần nữa phải nghĩ đến chuyện ra đi. Trước kia Ba tôi dẫn tôi vào Nam, nay đến lượt tôi dẫn người vượt biên. Ðời sống lúc đó thật ngột ngạt, phập phồng, vất vả. Từng bước chân, từng cánh tay cử động cũng có những con mắt theo dõi. Trong nhà phải nói chuyện thì thầm với nhau tưởng như trong vách kia có cả trăm lỗ tai đang nghe ngóng. Những bữa ăn vội vã, một mắt nhìn vào bàn ăn còn mắt kia phải canh chừng ngoài cửa, công an khu vực có thể vào nhà bất cứ lúc nào để dòm ngó kiểm soát, hạch sách. Họ đi từ trước ra sau nhà không cần hỏi han một tiếng. Tôi chưa từng tưởng tượng ra được có một ngày mình phải ở trong một hoàn cảnh như thế và cũng chưa từng đọc được trong sách vở có một thiên đường hạnh phúc như thế trên thế gian này. Người miền Nam đã được “giải phóng” và sống một cuộc đời hết sức “độc lập, tự do, hạnh phúc” như lời tuyên bố của những người miền Bắc; Cho nên cũng dễ hiểu, nếu cái cột đèn có chân cũng muốn bỏ nước ra đi bất chấp hiểm nguy. Tôi không thể sống trên quê hương giữa những người cùng máu mủ đồng bào mà lòng đầy hận thù chia rẽ. Cuộc sống thật sự không có ngày mai cho những người bị gọi là “Ngụy”. Sau mấy lần vượt biên thất bại, cuối cùng tôi cũng đến được đảo Pulau Bidong.
Thuyền nhân trên đảo tương đối được tự do sắp xếp đời sống của mình với những phương tiện tự túc, có nghĩa là vào rừng đốn cây để dựng chòi, nhặt nhạnh cái gì còn xài được của những người vừa rời trại. Mình “được” làm chủ chính bản thân không còn sợ ai dòm ngó kềm kẹp nữa. Cuộc sống thường nhật là những khắc khoải chờ đợi để được phỏng vấn và đi định cư ở nước thứ ba và mong ngóng tin tức gia đình, người quen. Có những đêm cả trại chạy ồ ra cầu Jetty đón nhận thuyền nhân mới đến, xem có thân nhân bạn bè của mình không. Chẳng ai muốn hỏi hành trình của họ ra sao, có bị cướp biển hay không. Dù có khốn khổ, nguy hiểm, tủi nhục ra sao thì đó cũng chỉ là sự lặp lại của chính mình. Hàng ngàn con mắt nhìn đám tân thuyền nhân như nhìn chính mình cách đây chẳng bao lâu, đẫm lệ, thầm thì an ủi “Cám ơn Trời Phật, tất cả những khổ đau chẳng là chi nữa, hãy làm lại từ đầu, miễn sống sót và xa chốn địa ngục trần gian là tốt rồi!”
“Pulau Bidong có list thì dông” Tôi học được trên đảo như vậy và dông lẹ, bỏ lại bao nhiêu hệ lụy buồn vui, khắc khoải đời thuyền nhân. Từ giã những cặp tình nhân bất đắc dĩ với những mối tình vá víu tạm bợ.
MĐNTH








