Lên trung học đệ nhất cấp, năm đệ lục thầy Hải dạy Kim Văn cho chúng tôi đọc Anh Phải Sống của Khái Hưng để tập bình giảng. Cuối giờ Lâm Ngươn Tuyến, cháu Đề đốc Lâm Ngươn Tánh đặt câu hỏi: “Nhất Linh vào Nam còn Khái Hưng ở lại miền Bắc ra sao, thưa thầy?” Thầy Hải trầm ngâm rồi nói: “Ông bị Việt Minh đóng cũi trấn nước thả trôi sông năm 47”. Nguyên lớp im phăng phắc vì sợ. Những ai sinh trưởng trong các gia đình Bắc di cư đều nghe cha mẹ kể về sự tàn ác của Việt Minh nhưng vừa đọc xong áng văn gây xúc động với bao cảm phục rồi biết tác giả bị thủ tiêu tàn nhẫn như người ta dìm chó… Chính những chi tiết ấy, như Đại lộ Kinh hoàng, thảm sát trường tiểu học Cai Lậy, Chôn sống Mậu Thân 68 khiến chúng tôi, các nam sinh của trường Lasan Taberd mỗi sáng thứ Hai hát vang Tiếng Gọi Công Dân dưới lá cờ vàng mong muốn lớn lên làm Người Quốc Gia.
Trong nhiều thập niên cái chết của Khái Hưng vẫn còn là một bí mật. Người ta biết ông bị hành quyết nhưng không biết hết chi tiết. Sưu khảo của Thụy Khuê là nghiên cứu đầy đủ nhất cho đến bây giờ.
[Trần Vũ]
Phần 2 | kỳ 1
Thụy Khuê
Một bài viết của Hồ Hữu Tường có ảnh hưởng tai hại
Trong báo Văn số 22, tưởng niệm Khái Hưng, có hai bài viết của Hồ Hữu Tường, một bài tên là “Khái Hưng, người thứ nhứt muốn làm nguyên soái của “văn chương sáng giá” và bài thứ hai tên là: “Gửi mõ Làng Văn về Khái Hưng”.
Bài đầu, Hồ Hữu Tường kể lại câu chuyện Khái Hưng đã trích một đoạn trong sách “Muốn làm chính trị” của ông để đăng báo Chính Nghiã [15] mà “không xin phép” và ông đã cùng Khái Hưng bàn việc ra báo Thời Phong.
Bài thứ hai, là đối tượng được bàn tới ở đây, Hồ Hữu Tường cho biết ông giữ một bí mật, muốn viết ra mà ngần ngại, rồi cuối cùng “phải viết”, vì sao? Đây là lý do:
“Không viết, thế mà phải viết. Viết để thú tội với lịch sử rằng tôi gánh trách nhiệm rất lớn đối với cái chết của Khái Hưng, làm cho dân tộc mất một cây bút thiên tài. Bởi tôi đã xúi Khái Hưng “móc giò” Hồ Chí Minh một cái khá đau.

Câu ông xúi Khái Hưng “móc giò” Hồ Chí Minh” cực kỳ hấp dẫn, khiến người nào đã đọc đến đây, không thể ngừng. Ông kể tiếp:
“Số là, cuối năm 1946, ít ngày trước cuộc binh lửa Hà Nội, Khái Hưng đến nhà tôi giọng lo âu và sầu bi nói:
– Chết tôi rồi anh ơi! Tôi không phải là đảng viên của VNQDĐ mà chỉ vì cảm tình với anh em, nhứt là với anh Tam, ra gánh gánh nặng là chủ trương tờ Chính Nghiã và nhựt báo Việt Nam. Nay mấy anh đi đâu mất hết, không để lại một đồng bạc. Tôi phải lo viết cho đầy tờ báo, coi in, coi phát hành. Mà nhứt là chạy tiền. Vì chúng nó khủng bố độc giả, nên mỗi ngày chỉ bán được có chín chục số. Việt Nam là cái thùng thủng đáy tôi phải gánh nước mà châm vào hoài… Tôi ở vào tình trạng là chỉ còn tiền ra một số nữa thôi. Rồi phải đình bản. Nhưng như vậy còn gì là danh tiếng của anh Tam, của bao nhiêu bạn bè trong VNQDĐ? Anh bảo tôi nên xử trí làm sao?
Tôi an ủi Khái Hưng:
– Đủ tiền ra số chót là được rồi. Tôi có kế cứu thể diện của anh Tam, của VNQDĐ và rút anh ra khỏi guồng máy. Anh về viết bài tuyên bố như thế này đây… rồi đình bản.
Để bắt chước lối kể truyện Tầu, tôi nói với Khái Hưng như vầy…như vầy… Khái Hưng nghe xong mừng quá, nhảy lại ôm tôi khen: “Diệu kế! Diệu kế!” Rồi thoát đi ngay.
Hai ngày sau, vào lối mười giờ, Khái Hưng lại nhà tôi với vẻ hân hoan, nói:
– Tôi vừa gặp cụ Hồ, rồi đi ngay lại đây cho anh hay. Tôi đã viết bài y theo như anh đã vạch. Đại khái tôi nói: Sở dĩ bấy lâu nay chúng tôi kịch liệt công kích chánh phủ và đảng là chánh phủ và đảng đi đường lối thân Pháp, bắt tay với Pháp mà làm mất quyền lợi của nhân dân. Nay, sau việc xung đột ở Hải Phòng, việc chuẩn bị đánh nhau ở Hà Nội, chúng tôi thấy rằng bây giờ chính phủ đi với dân tộc mà chống Pháp. Như vậy, sự đối lập của chúng tôi là thừa. Chúng tôi tuyên bố chấm dứt sự đối lập, đình bản báo chí, đem toàn lực đứng sau chánh phủ để ủng hộ chánh phủ chống Pháp.
Tôi hỏi Khái Hưng:
– Rồi sao nữa?
– Cụ Hồ đòi tôi đến hỏi tại sao tôi viết bài như vậy? Tôi đáp: “Bởi chúng tôi hết tiền để cho ra tờ Việt Nam”. Cụ Hồ nói: “Bài tuyên bố đó rất phương hại cho đường lối của chánh phủ. Chánh phủ đi cái chánh sách đứng thẳng với Pháp để điều đình mà mình được nhiều quyền lợi. Lại tuyên bố như vậy là gài chánh phủ vào đường chiến tranh với Pháp. Tôi yêu cầu VNQDĐ tiếp tục đường lối đối lập, chống chánh phủ để cho Pháp thấy rằng ý của chánh phủ là muốn bắt tay với Pháp. Nếu hết tiền ra báo, chánh phủ sẽ cấp đỡ cho.
Tôi hỏi:
– Anh trả lời ra làm sao?” [16]
Hồ Hữu Tường tiếp tục “ba hoa” thêm một đoạn nữa, ông đưa vào miệng Khái Hưng và cụ Hồ những lời ngớ ngẩn …. rồi ông kết luận, bằng một câu không có vẻ gì là đùa cợt cả:
“Bài tuyên bố của Khái Hưng viết đã gài cho Việt Minh đánh nhau với Pháp một phần nào. Họ đã trả thù bằng cách giết Khái Hưng” (chúng tôi in đậm) [17]
Bài viết của Hồ Hữu Tường, chỉ là một một bài văn hoạt kê, trong mục Mõ Làng Văn, nhưng sợ người đọc không tin nên ông đã mào đầu bằng những lời “trịnh trọng”: “Viết để thú tội với lịch sử rằng tôi gánh trách nhiệm rất lớn đối với cái chết của Khái Hưng. Bởi tôi đã xúi Khái Hưng “móc giò” Hồ Chí Minh một cái khá đau”. Ông tự cho mình vai trò “lịch sử”, coi mình là Khổng Minh, xem Khái Hưng như đứa nhỏ đến vấn kế và ông có cớ chế giễu cụ Hồ. Nhưng được ban biên tập báo Văn coi là đúng đắn, thậm chí còn chú thích cả về việc Hồ Hữu Tường “cho biết” báo Việt Nam lúc đó chỉ còn có “chín chục” người mua!
Về việc đình bản, báo Việt Nam có thuê đăng “lời kính cáo” trên báo Vì Nước (2-12- 46) như sau:
“Kính cáo độc giả. Vì chưa đủ điều kiện mới thuận tiện về phương diện ấn loát, báo Việt Nam phải tạm ngừng xuất bản ít lâu. Vậy xin có lời thanh minh mong các độc giả thể tình cho”. Báo Việt Nam.
Việc đình bản báo Việt Nam, được trình bày cặn kẽ trong bài xã luận tựa đề: Quân dân nhất trí đăng trên báo Chính Nghiã số 27 (9-12-46), chúng tôi sẽ đề cập đến ở phần dưới. Không có câu nào “móc giò” ai cả.
Câu chuyện của Hồ Hữu Tường chỉ là phóng bút, dựa vào chuyện báo Việt Nam đình bản, để tạo một chuyện tiếu lâm. Nhưng những gì ông viết ra không thể “cứu vãn” được; bởi vì người ta tin và chép lại, tạo ảnh hưởng không tốt đến tận bây giờ: Trong một bài báo mới đây viết về Khái Hưng, người ta vẫn còn trích lời của Hồ Hữu Tường, để đổ tội cho Khái Hưng đã “gây ra” chiến tranh Pháp-Việt!
Hoạt động báo chí của Khái Hưng 1945-1946
Sau khi đi tù Vụ Bản năm 1942, trở lại Hà Nội đầu năm 1943, Khái Hưng bị quản thúc nên không thể làm báo như trước, nhưng có lẽ trong thời kỳ này, ông đã dịch Liễu trai chí dị, và viết truyện cho nhi đồng.
Đến khi Nhật đảo chính Pháp ngày 9-3- 45, hoạt động báo chí dần dần sống lại, trong số đó có tờ Bình Minh, cơ quan của Đại Việt Tân Thanh Niên, do Nguyễn Giang (con Nguyễn Văn Vĩnh) làm chủ nhiệm, Khái Hưng làm chủ bút, số 1 ra ngày 20-3-45, đăng những thông tin của báo Domei (Nhật) [18].
Tháng 5-45, Tự Lực văn đoàn ra tờ Ngày Nay kỷ nguyên mới, số 1 (5-5-45) Giám đốc Nguyễn Tường Bách và trị sự: Nguyễn Trọng Trạc. Khái Hưng rút khỏi tờ Bình Minh, Phan Huy Đán (bác sĩ Phan Quang Đán) sẽ thay thế làm chủ bút.
Hơn ba tháng sau:
Ngày 19-8-45, Việt Minh lên nắm chính quyền.
Nhóm Tự Lực ngừng hoạt động trong hai tháng.
Đến giữa tháng 10-45, Khái Hưng, Hoàng Đạo và Nguyễn Tường Bách ra Việt Nam thời báo, số 1 (22-10-45), do Nguyễn Trọng Trạc, Giám đốc, Trần Khánh Giư, chủ bút. Việt Nam thời báo ra đến số 20 (14-11-45) thì trở thành nhật báo Việt Nam, Cơ quan của Việt Nam Quốc Dân Đảng, số 1 (15-11-45). Đây là tờ báo đối lập đầu tiên, như chúng tôi đã trình bày trong chương Hợp tác và đối đầu.
Báo đối lập hồi đó còn có tờ Thiết Thực của Phan Huy Đán, Khái Hưng có cộng tác, và tờ Hồn Công Giáo của Mai Ngọc Liệu [19], người đi tù ở Lạc Quần, đã viết bài về Khái Hưng.
Tờ Việt Nam không đề tên chủ nhiệm, chủ bút, ở dưới cùng trang báo, có hàng chữ nhỏ: Nhà in Việt Nam, quản lý Hoàng Thúc Gị.
Lúc đầu, tờ Việt Nam có Nguyễn Tường Bách và Nguyễn Tường Long, dễ nhận diện qua những bài chính luận đanh thép ký tên TL hoặc không ký tên, nội dung chống Pháp hoặc chỉ trích một số quyết định của chính phủ. Nhưng từ tháng 2-1946, Nguyễn Tường Bách lên làm việc ở Trung ương đảng bộ Quốc Dân Đảng, và Nguyễn Tường Long bận việc trong chính phủ Liên Hiệp, một số người viết trẻ thay thế.
Tháng 5-46, Khái Hưng cho ra tờ Chính Nghĩa tuần báo, cơ quan khảo cứu và tranh đấu của V.N.Q.D.Đ, song song với nhật báo Việt Nam. Chính Nghiã ghi: quản lý Phạm Tất Thắng.
Chính Nghĩa số 1 ra ngày 20-5-46 và số chót, 28 ra ngày 16-12-46. Chính Nghiã sẽ là tờ báo cuối cùng của Khái Hưng, nội dung: chính luận, văn chương và lịch sử.


Toà soạn Việt Nam và Chính Nghĩa trong đêm đầu chiến dịch Ôn Như Hầu
Khi Võ Nguyên Giáp phát động chiến dịch Ôn Như Hầu, tờ Chính Nghiã ra được hai tháng.
Theo Nguyễn Công Hoan, trong bài Hành động và tư tưởng phản động của Phan Khôi cho đến thời kỳ toàn quốc kháng chiến [20], đêm 12-7-46, công an bao vây số 80 Quan Thánh, Phan Khôi bị bắt.
Trong bài này, Nguyễn Công Hoan tố cáo sự “phản động” của Phan Khôi, chủ nhiệm chi bộ Quốc Dân Đảng ở Quảng Ngãi, đã lộ rõ từ tháng 6-46: trong một buổi mít-tinh ở Quảng Nam, Phan Khôi lên diễn đàn đả kích thậm tệ hiệp định sơ bộ 6-3-46. Đêm 12-7-1946, công an bao vây 80 Quan Thánh, Phan Khôi bị bắt và bị đưa lên Việt Bắc [21].
Về việc “tấn công” toà soạn báo Việt Nam và Chính Nghiã, nhiều bài viết khác nhau và khó tin, kể chuyện hai bên bắn nhau dữ dội, có người kể cả Khái Hưng cầm súng nữa. Hoàng Văn Đào cũng viết sai như thế.
Duy chỉ có nhà văn Huy Quang Vũ Đức Vinh [22] trong bài “Từ vụ tấn công tòa báo Việt Nam 1946, Nhớ về nhà văn Khái Hưng” [23], giọng đặc biệt thành thực, sống động, ghi lại rất chi tiết vụ “tấn công” này. Bài viết của Huy Quang không hề nói tới “súng nổ, người chết”, hai bên “bắn nhau mấy tiếng đồng hồ” như một số bài khác. Lúc đó Huy Quang Vũ Đức Vinh cùng bạn là Việt (tức nhà văn Thanh Nam sau này) là hai thiếu niên 14, 15 tuổi, đến toà soạn Việt Nam học lớp Quốc gia Thanh niên đoàn của Quốc Dân Đảng do cụ Hể [Phạm Văn Hể] giảng dạy; tình cờ rơi vào cuộc bao vây tòa báo; sau này ông thuật lại đầy đủ chi tiết trong một bài rất dài, ở đây xin trích một số ý chính:
“Chiều hôm đó, sau lớp học thường lệ của cụ Hệ [Hể], Việt và tôi rủ nhau xuống nhà chữ [nhà in] xem mọi người làm việc (…) Khi chúng tôi tính ra về thì trời đã sẩm tối. Ngay lúc đó chợt có tiếng chân người dầm dập [rầm rập] từ phía cổng lớn bên đường hàng Bún chạy vào, rồi cả từ phía cổng nhỏ đường Quan Thánh nữa. Tiếp theo là tiếng chân chạy lên phía cầu thang và liền sau đó thì tôi thấy các công an xung phong tiến vào nhà chữ người nào cũng cầm súng trên tay chiã về phía trước (…). Khoảng một tiểu đội công an xung phong xâm nhập nhà chữ. Họ bố trí đứng chặn ở cửa chính và các cửa sổ. Các nhân viên trong nhà chữ lúc đó khoảng hơn mười người đều ngơ ngác chưa hiểu chuyện gì xẩy ra. Một lúc sau thì toán công an khác áp giải những người của tòa báo từ trên gác xuống, trong số đó có mấy nhân viên tòa soạn và cả vợ chồng ông Khái Hưng. Tất cả đều phải giơ tay cao và đi trước mũi súng của công an. Trong số những người từ trên gác đi xuống tôi còn thấy một người khách lạ, mặc âu phục trắng, đeo cà-vạt đen. Người này khoảng gần 60 tuổi, vóc dáng cao gầy vẻ mặt quắc thước và để râu dài chấm ngực. Vị khách lạ đi vào rồi dừng lại bên dàn hộp chữ cao ở phiá bên trái, còn ông bà Khái Hưng đứng sang phía bên phải gần chỗ đặt bàn dao cắt giấy. Tổng số người bị dồn vào nhà chữ lên khoảng gần 20 người. Tất cả đều im lặng. (…)
Chợt vị khách lạ lên tiếng nói với nhóm công an là cụ giơ tay đã lâu thấy mỏi và muốn biết cụ có thể bỏ tay xuống được không? Không ai trả lời, nhưng một nhân viên công an đứng gần cụ bỏ ra ngoài, rồi mấy phút sau viên chỉ huy toán công an bước vào. Hắn là một thanh nhiên tuổi trạc 30, thân hình rắn chắc khoẻ mạnh, nét mặt sáng sủa thuộc thành phần có học. Hắn nói với vị khách lạ:
– Thưa thày Phan Khôi. Con là học trò của thày. Xin thày bỏ tay xuống. Nhưng sao thày lại ở trong tòa báo này.
Tôi ngạc nhiên một cách thích thú khi biết vị khách lạ là cụ Phan Khôi (…) Cụ Phan Khôi từ từ buông tay xuống rồi đáp:
– Tôi mới ở Trung Bộ ra Hà Nội và hôm nay đến thăm ông Khái Hưng, bạn của tôi. Chẳng may tôi bị đau bụng diarrhée, nên ông bạn tôi mời ở lại. Ở đây có nhà xí tốt.
Câu đáp khiến người nghe có thể cười, nhưng lúc đó trước mũi súng chẳng ai cười, ngoại trừ ông Khái Hưng. Ông mỉm cười nhẹ nhàng, gật đầu xác nhận lời nói của cụ Phan Khôi, rồi yêu cầu viên chỉ huy công an cho mọi người bỏ tay xuống với lý do không ai có vũ khí. Nhưng viên chỉ huy này chỉ đồng ý để thêm bà Khái Hưng được buông tay mà thôi. Ông Khái Hưng nhìn sang bà vợ ra hiệu chấp nhận điều đó và bà Khái Hưng bỏ tay xuống (…).
Tất cả nhân viên tòa báo Việt Nam bị bắt giữ ngày hôm đó được đưa lên hai chiếc xe loại vận tải kín bưng chờ sẵn ở phiá cổng sau tòa báo (…)
Ngày hôm sau, tất cả phải trả lời thẩm vấn, rồi trở về phòng giam thêm một đêm nữa trừ cụ Phan Khôi và những người làm trong nhà chữ, đã được về. Khoảng 2, 3 giờ chiều hôm sau thì tất cả được lên xe chở về tòa soạn.
Ông Khái Hưng đẩy cánh cổng mở rộng và tất cả chúng tôi đi thẳng vào nhà chữ. Một cảnh tượng đồ đạc bề bộn ngổn ngang phơi bầy trước mắt chúng tôi. Các hộp chữ bị kéo đổ tung toé. Giấy báo bị rỡ tung. Các ngăn kéo đều bị rút ra khỏi bàn. Nhiều chiếc ghế bị đạp đổ hoặc xô nghiêng. Có những bộ phận máy in bị gỡ xuống sàn nhà” [24].
Huy Quang viết rất rõ: số người bị bắt khoảng 20, một nửa là thợ nhà in và một nửa nhân viên tòa báo. Những người thợ sắp chữ được tha trước, cùng với Phan Khôi. Sau đó cụ Phan được nguời em họ Phan Bôi, là Thứ trưởng Nội vụ, đưa lên Việt Bắc. Những người làm việc trong tòa báo cũng được tha về. Theo sự mô tả của Huy Quang, việc “tấn công” tòa báo, cơ quan “đầu não” của Quốc Dân Đảng, không có gì “sắt máu” như các vụ Ôn Như Hầu khác. Mặc dù đã xẩy ra đêm 12-7-46, đúng là đêm Võ Nguyên Giáp phát động chiến dịch.
Khái Hưng là trường hợp đặc biệt chăng? hay Võ Nguyên Giáp không “dám” bắt Phan Khôi và Khái Hưng, hai cây đại thụ của văn học?
Dù sao chăng nữa điều này càng khiến chúng ta nghĩ đến cái chết của Khái Hưng sau đó: có rất ít khả năng do các nhà chính trị hay quân sự gây ra, mà có thể chỉ là “thành tích” của đồng nghiệp nhà văn.
(còn tiếp 2 kỳ)
[15] Đó là bài phiếm luận Cuộc đàm phán giữa Thích Ca và Karl Marx hay là ba lần giác ngộ sau chót của Thích Ca, đăng trên Chính Nghiã từ số 2 (27-5-46) đến số 4 (10-6-46).
[16] Hồ Hữu Tường, Gửi Mõ Làng Văn về Khái Hưng, Văn số 22, trang 47-49.
[17]Hồ Hữu Tường, Gửi Mõ Làng Văn về Khái Hưng, Văn số 22, trang 49.
[18] Theo thông tin của Aki Tanaka gửi cho tôi ngày 3-9-2020.
[19] Theo Phạm Ngọc Lũy, Vụ thủ tiêu Khái Hưng, in trong Khái Hưng, Kỷ vật đầu tay và cuối cùng, tập 2, t. 878.
[20] Nguyễn Công Hoan, Hành động và tư tưởng phản động của Phan Khôi cho đến thời kỳ toàn quốc kháng chiến, Văn Nghệ số đặc biệt thứ 2 chống Nhân Văn Giai Phẩm, số 12 (5-1958).
[21] Theo Nguyễn Công Hoan, Hành động và tư tưởng phản động của Phan Khôi cho đến thời kỳ toàn quốc kháng chiến, Văn Nghệ số đặc biệt thứ 2 chống Nhân Văn Giai Phẩm, số 12 (5-1958).
[22] Huy Quang Vũ Đức Vinh (1931-2005), nhà văn quân đội, sáng lập tạp chí Đất Mới, một trong những tạp chí văn nghệ đầu tiên tại hải ngoài từ tháng 7-1975, Thanh Nam (chồng Tuý Hồng) làm chủ bút, tại Seattle, Hoa Kỳ.
[23] Huy Quang Vũ Đức Vinh, Từ vụ tấn công báo Việt Nam 1946, Nhớ về nhà văn Khái Hưng in trong Khái Hưng, Kỷ vật đầu tay và cuối cùng, tập 1, do Nguyễn Thạch Kiên sưu tầm và biên soạn, Nxb Phượng Hoàng, California, 1998, trang 315-341.
[24] Huy Quang Vũ Đức Vinh, Từ vụ tấn công báo Việt Nam 1946, Nhớ về nhà văn Khái Hưng, in trong Khái Hưng, Kỷ vật đầu tay và cuối cùng, tập 1, do Nguyễn Thạch Kiên sưu tầm và biên soạn, nxb Phượng Hoàng, California, 1998, trang 325-336.






