Mỗi khi bàn về phở, tính địa phương ở dân Việt lại trỗi dậy. “Tản mạn về Phở” của Đặng Hồng Nam không thoát chiếc bẫy ấy và chắc hẳn sẽ gây nhiều bực bội cho những độc giả sinh trong Nam… vì tác giả chê mọi thứ ở Đàng Trong!
[Trần Vũ]
Đặng Hồng Nam
Ngày xưa, nói đến phở, người ta coi là một thứ quà sang. Đã có những bậc đại nhân, đại văn, đại ẩm thực như Thạch Lam, Nguyễn Tuân, Vũ Bằng nói về đề tài này. Một bà bệnh nhân thuộc tầng lớp thượng lưu trước đây một lần đi khám bệnh tại nhà một bác sĩ danh tiếng nhất nhì trong nước. Bác sĩ sau khi thăm bệnh xong thì chẳng cho đơn gì cả, chỉ khuyên bà bệnh nhân đó nên ăn phở thường xuyên.
Hồi tôi còn sinh viên, chẳng mấy khi được ăn phở. Sau đó đọc Nam Cao, thấy thằng Mô, con Sen khi gặp lại nhau đãi nhau mấy bát phở liền thì lấy làm lạ lắm.
Những người Bắc vào sống ở Sài Gòn thường ấm ức vì nỗi phở ở đó không ngon. Một vài nơi trong thành phố treo biển hiệu Phở Bắc, Phở Hà Nội, Phở Hải Dương, Phở Hải Phòng… nhưng khách hàng không mấy khi được mãn nguyện. Có người cắt nghĩa cho tôi rằng, theo lời ông chủ hiệu phở Thìn, sở dĩ phở ở Sài Gòn không thể ngon như phở ở Hà Nội được vì cái nước ở trong này có nhiều hóa chất, nhiều tay làm phở cự phách ở miền Bắc khi vào thử nghiệm tay nghề ở trong này đều cảm thấy bất lực.
Thế thì phở phải là một thứ gì vi diệu vi phàm lắm. Chẳng thế mà hồi Nguyễn Tuân chết, có người Việt kiều ở Canada hay Pháp, Mỹ gì đó đã định trương lên cái cờ phở đạo, ý chừng muốn lập nên một cái đạo của dân ta để sánh với trà đạo của Nhật Bản.
Riêng tôi chỉ những khi nhỡ bữa thì mới đi ăn phở. Nếu mà vài lần nhỡ bữa liền như thế thì lấy làm khổ lắm. Người ta chẳng đã từng ví bồ như phở, vợ như cơm đấy là gì. Khi đói bụng tôi thích một bát cháo loãng hay một bát cơm với một khúc cá kho hoặc một cái bánh mì với một quả trứng ốp lếp hơn là một bát phở.
Mỗi lần đi ăn phở tôi lại ấm ức mà thầm nghĩ:
– Có cái quái gì mà người ta đề cao món ăn này lên ghê thế nhỉ?
Một ông già đọc cho tôi nghe câu thế này:
Nước trong, bánh dẻo, thịt mềm
Rau thơm, hành, húng ắt là phở ngon.

Một ít bánh, một ít thịt, một ít rau thơm, một tí nước dùng, có thế thôi mà ở Hà Nội mỗi sáng ngày ra có rất lắm nơi người ta mỗi người cầm sẵn đồng tiền trong tay đứng kiên nhẫn xếp hàng trước quầy hàng của anh bán phở. Có hàng đông khách vì nổi tiếng là ngon, có hàng vì nổi tiếng là “giá rẻ bất ngờ” mà “ăn cũng được”. Khốn khổ cho dân ta, quanh năm tứ đời lo lam lo làm, đến khi có ít tiền, có muốn ăn ngon một tí cũng vẫn phải nhọc nhằn. Không phải chỉ đến thời mậu dịch quốc doanh người ta mới biết xếp hàng mà ngay từ thời Nguyễn Tuân, Vũ Bằng người ta đã thích xếp hàng để ăn phở rồi. Có lẽ người ta cho rằng ăn một cách vất vả mới là ăn ngon. Cho đến bây giờ đất nước đã chuyển sang theo nền kinh tế thị trường, dường như Hà Nội vẫn là nơi thích xếp hàng nhất, có nhiều người chịu khó đứng xếp hàng nhất.
Hồi mới lên thủ đô, tôi hỏi người ta hàng phở nào là ngon nhất. Người ta bảo phở Thìn ở Lò Đúc. Tôi rủ một người bạn cùng đi. Đến trước quầy phở, tôi phải trả tiền trước. Lúc đó là buổi trưa, hàng phở không đông khách lắm nên chúng tôi vào trong nhà và chọn chỗ ngồi chờ. Trong lúc chờ đợi, anh bạn tôi tán tụng về hàng phở này, anh bạn chỉ cho tôi xem ngọn lửa bốc từ bếp lò trùm lên chảo thịt đang trên tay người làm phở. Sau cái lúc bén lửa ấy, nhà làm phở dùng đũa gạt thịt từ chảo ra ba bốn cái bát đã có bánh đặt sẵn trên bàn, cho rau thơm, mì chính, dội nước, anh ta quay vào phía hai chúng tôi cất giọng:
– Hai anh kia, ra bê hộ tôi cái.
Chúng tôi vội vàng đứng dậy, mỗi người ta bê lấy một bát, lấy đũa, lấy thìa đem lại chỗ mình ngồi ăn.
Chừng ba tháng sau tôi cùng một người bạn tới lại, hàng phở đó đã dọn sang bên kia đường, gian hàng rộng hơn, bàn ghế nhiều hơn. Bây giờ người ta xào thịt vào một cái chảo to hơn, xào năm bảy mẻ một lúc, đổ dồn vào một cái xô bằng tôn sau đó mới san ra từng bát. Từng bát ô tô, loại bát sành Bát Tràng, thịt, bánh chất lên đầy tú hụ, một thứ nước đục lờ lờ (phở áp chảo nước đục là phải rồi!). Chúng tôi ăn, tin là ngon cũng như khi đọc các bản thơ dịch mà tin là hay.
Bà mẹ anh Ch. một người bạn tôi, là một người đẹp lạ lùng. Lần đầu tiên gặp bà, tôi ngỡ như một bà tiên vừa bước ra từ một câu chuyện cổ tích nào đó. Tóc trắng như cước, khuôn mặt hiền từ, đôi mắt phúc hậu, bà vốn là con của một nhà học giả có tiếng, từng là con dâu của một vị thượng thư dưới triều Bảo Đại. Bố anh Ch. là một vị lãnh đạo cấp cao của Nhà nước ta. Ông cụ kể rằng một lần đi công tác về, thấy bà đi cấy cùng bà con nông dân, ông cụ thương quá, thành ra có anh Ch.
Bà cụ quí tôi lắm, nói chung các bạn bè của con, bà cụ đều quí. Có nhiều lần ngủ đêm ở nhà anh Ch, sáng ngày ra tôi thường mời bà cụ đi ăn phở, bà lấy làm thích lắm. Mà có lẽ trong tất cả đám bạn bè con cái chỉ có tôi rủ được bà đi ăn như vậy thôi. Chỉ có mình tôi với bà thì bà mới đi, có một người khác nữa là bà nói:
– Thôi, anh em cứ đi đi, bác ăn xôi rồi.
Mấy lần đầu bà sợ tôi nghèo nên khuyên tôi vào các cửa hàng mậu dịch.
Anh Ch. kể rằng hồi anh còn bé, có lần bà cụ đưa anh đi ăn phở, khi anh ăn gần hết bát phở rồi bà mới phát hiện ra miếng chanh nhà hàng dành cho anh hãy còn nguyên. Bà bảo:
– Vắt nốt vào bát mà ăn con ạ, kẻo phí.
Nghe chuyện ấy, thỉnh thoảng nhớ lại tôi vẫn thấy buồn, càng thấy thương bà cụ.
Từ mấy chục năm nay tâm lý “mậu dịch” đi vào đời sống xã hội ta quá rõ, ảnh hưởng đến cả ba bốn thế hệ. Hầu như cái gì cũng có “mậu”: “gạo mậu”, “phở mậu”… rồi “thơ mậu”. “Gạo chợ đen” thì có thể đong được chứ “thơ đen” với “thơ chui” thì bố ai mà dám đọc, bởi thế nên chỉ có “thơ mậu” mà thôi.
Có một lần nhà văn Chu Văn nói với tôi và mấy anh bạn nữa rằng nghề làm phở phát tích từ thôn Rao Cù huyện Nam Trực, bởi thế cứ đến hỏi các ông chủ tiệm phở ở Sài Gòn, Vạn Tượng, Nam Vang… là y như rằng cứ mười ông có chín ông gốc quê Nam Định. Về sau có dịp tìm hiểu thêm tôi thấy quả có như vậy. Bây giờ thì khắp các nơi, Hà Nội, Hải Phòng… đâu đâu cũng nhan nhản những biển hàng “Phở gia truyền Nam Định”. Nhưng Nam Định có thật là quê hương của phở không thì lại là chuyện khác.
Những người Nam Định, hơn đâu hết, tin rằng xứ mình là xứ biết ăn ngon hơn cả. Dân nghiện phở ở Nam Định than phiền là phở Hà Nội không ra gì. Còn người Hà Nội lỡ có một lần ăn phở ở bến ô tô hay nhà ga Nam Định thì mang ấn tượng xấu mãi.
Một lần ngồi uống rượu trong quán, ngồi cạnh nhà thơ Hoàng Trung Thông, tôi hỏi ông có biết Hà Nội có hàng phở nào đáng được gọi là phở không. Ông không biết và hình như ông không sành lắm về món ấy, nhưng ông cho rằng “nếu có tiền, ăn ở Việt Nam là ngon nhất” và ông ca ngợi món nước chấm của ta, không thấy đâu có những món nước chấm ngon như của ta.
Một người ngồi bên kia bàn giới thiệu với tôi một hàng phở nào đó ở phố Huế. Tôi hỏi ngon như thế nào, anh ta bảo:
– Thịt gà chặt miếng…
Thế thì vứt. Tôi nhớ có lần ăn phở ở phố Trương Minh Giảng, Sài Gòn, người bạn tôi gọi: “Cho hai tô phở đặc biệt”. Tôi tưởng đặc biệt là thế nào, hóa ra là mỗi bát phở có thêm một cái lòng đỏ trứng gà. Thế thì là đặc biệt tiền chứ đâu có đặc biệt phở. Lại nhớ cái hồi ra Hải Phòng, bọn bạn tôi kháo cho tôi hay rằng thằng cha K. (cũng là một người bạn tôi) mới lấy được vợ giàu lắm. Tôi hỏi giàu thế nào? Có cửa hàng vàng, xe cúp cứ cưỡi suốt ngày… đại khái nhiều thứ nữa, sáng nào hai vợ chồng anh ta cũng đi ăn phở, mỗi lần trước khi đi vợ còn thủ vào túi hai quả trứng gà để ăn cùng (!).
Một buổi tối, vì chuyện không hay mới xảy ra trong gia đình, tôi buồn chán đến hết mức. Tôi ngồi quán uống rượu một mình và nhấm nháp những ý nghĩ giận thân giận đời. Ngồi chán chê mê mỏi, uống đến mấy tuần rượu rồi mà vẫn chưa nguôi nguôi được những ý nghĩ buồn chán, sợ ngồi lâu quá, nhà hàng coi kỳ, tôi bỏ đi lang thang. Kinh nghiệm cho tôi thấy rằng khi ta mang bộ mặt sầu mỏi, tấm thân rã rời, chớ nên bước chân vào nhà ai, bạn trai cũng vậy mà bạn gái càng không nên. Nhưng rồi tôi chợt nhớ đến một người bạn vong niên, anh ra hơn tôi gần hai chục tuổi, vừa được vợ tặng cho gần một chục triệu tiền vỡ hụi, phải bán ngôi nhà lành đi mua một căn nhà rách ở trong một ngõ hẻm lầy lội. Khi tôi đến, anh đang xếp chân bằng tròn trên giường nói chuyện với mấy chú muỗi, nét mặt bình thản, không có vẻ gì của một người phải tiếp hai chục đám chủ nợ trong mỗi ngày. Vừa bước vào nhà tôi đã nói:
– Em buồn lắm đi uống rượu đi.
Anh không phải là đệ tử của Lưu Linh, nhưng là người hiểu được rằng đôi khi những nỗi buồn vớ vẩn còn to hơn nỗi buồn của một kẻ mất nhà. Lập tức anh đứng dậy thay quần áo rồi cùng tôi ra đường. Anh dẫn tôi đến một cái quán nằm trong ngách của một đoạn phố nhỏ nối thông từ phố Bến Ngự sang ngôi đền người Hoa ở phố Hoa kiều. Anh chẳng hề hỏi đến chuyện nỗi buồn của tôi mà mở ra những đề tài giời ơi đất hỡi. Hóa ra chuyện của mình vẫn bé hơn những chuyện của nhân loại. Lúc ấy tôi không nghĩ thế, nhưng mà tôi đã nguôi nguôi đi ít nhiều và bắt đầu thấy đói. Nhà hàng làm cho chúng tôi mỗi người một bát phở bảy trăm, phở bình thường ở các nhà hàng lúc bấy giờ phải là một nghìn, bảy trăm là cái giá, cái loại rất bình dân. Nhưng từ thuở cha sinh mẹ đẻ đến bây giờ tôi chưa từng được ăn một bữa phở nào ngon như thế. Trong ánh sáng lờ mờ của ngọn đèn dầu đặt trên bàn ăn kê sát vách tường ngõ tối không nhìn rõ được nhưng tôi biết đây là bát phở rất loãng. Hầu như chỉ có một gắp sợi bánh và vài miếng thịt lát mỏng, thứ thịt gì tựa như mề gà, nhưng không phải, nó vừa giòn vừa mềm, vừa se lại vừa dịu.
Lúc ấy tôi ăn ngấu nghiến mà không kịp hỏi anh bạn. Vài hôm sau tôi vẫn nhớ lại cái vị thịt đó và đoán ra có lẽ là thịt bò chín.
Có vài lần nữa tôi đi qua cái hàng phở nằm trong ngách phố nhỏ ấy nhưng không dám vào vì sợ sẽ không có lại được cảm giác ngon lành như lần đầu. Lại nhớ đến câu nói của một triết gia cổ đại: “Người ta không thể tắm hai lần trên cùng một dòng sông”.
Hồi mới lớn tôi có mang lòng si mê một cô gái. Nàng xinh đẹp lắm. Tôi nhiều lần đến nhà nàng chơi và nàng cũng đã năm bảy lần tìm đến nhà tôi. Nhưng mà tình duyên không thành, nàng đi lấy chồng, tôi tiếc xót xa. Nghe nói rằng sau khi lấy chồng nàng lại còn xinh đẹp hơn, tôi lại càng tiếc. Chừng bảy tám năm sau tôi gặp lại nàng trong rạp chiếu phim vào lúc tan buổi chiếu. Nàng đi cùng chồng, một gã đàn ông thô lậu chẳng có vẻ gì là xứng đáng để được hưởng thứ tài sản vô giá kia. Nhân lúc đông người chen chúc nhau ra cửa, chồng nàng đi lên trước, tôi cầm lấy tay nàng mà nói:
– Mất em anh tiếc lắm.
Rồi chúng tôi hẹn gặp lại nhau. Nàng trách cứ, tôi phân trần. Nhưng đáng lẽ nên như thế là đủ, chúng tôi lại dại dột ôm hôn nhau. Nàng bấy giờ đã là một người mẹ hai con, tim không tăng nhịp đập lên là mấy, đôi bầu vú tong teo. Dòng sông này tôi không kịp tắm lần nào.
Những người sành ăn phở cho rằng phở ngon phải là phở chín chứ không phải là tái hoặc tái lăn, càng không phải là thịt gà chặt miếng to.
Ở Nam Định có hai hàng phở cùng có tên là Đán. Một Đán gầy, một Đán béo. Lần đầu tiên đến cái hàng phở nằm ở bên ngách chợ Rồng tôi lấy làm ngờ cái danh tiếng của ông Đán này. Có độc hai cái bàn dành cho khách, vài cái ghế, một cái bếp lò chỉ như những cái bếp lò vẫn sử dụng cho một gia đình, cái xoong đặt trên bếp cũng vậy. Hai ông bà già dáng chừng như cán bộ công nhân về hưu mới mở ra cái việc phục vụ ăn uống này để thêm tiền chi tiêu, lúc rờ cái thớt, lúc mó con dao, trông thấy cũng đủ sốt ruột. Khách khứa chả có ai, chỉ có tôi và một anh bạn, thế mà từ lúc chúng tôi ngồi yêu vị đến lúc có được một bát phở đặt trước mặt cũng phải mất đến mười lăm phút.
Những lần khác tôi đến ăn, dù có năm bảy người khách ông cũng vẫn chỉ làm với tốc độ ấy thôi. Có khách đến mới thái bánh. Ông gỡ nhẹ tay từng tấm bánh một đặt xếp lên thớt, dao đưa cũng từng nhát một, nhát một, thái vừa đủ cho một bát hoặc đến hai bát là cùng.
Lại nhớ hồi sinh viên, buổi tối đi qua cửa hàng ăn uống ở phố Hàng Bài bao giờ cũng thấy ba bốn người ngồi thái bánh phở. Bánh phở thái chất đầy các rổ, các khay, sáng ngày ra khách ăn đứng xếp hàng thành mấy vòng trong nhà, tới tận vỉa hè.

Nước dùng đựng trong một cái xoong nhỡ làm theo hình trụ khuyết đặt trong nồi nước nhúng bánh. Cũng trong một nồi mà có hai miền khác nhau. Nước trong nồi thì sôi sùng sục còn nước trong xoong thì lặng như tờ, nhưng mà nóng đến độ sôi, đủ làm trút mồm khách ăn. Hình như Thạch Lam có nói đến một nồi nước phở sôi sùng sục. Những người làm phở bảo rằng khi làm nước phở phải dùng than tàu, đun liu riu, xương đã lọc kỹ hết thịt máu, váng lên mặt nồi đến đâu phải vớt đi đến đấy, nấu một nồi nước phở phải từ sáu giờ tối hôm trước đến năm giờ sáng hôm sau.
Xếp phở vào bát xong ông mới cầm đến miếng thịt treo trên móc. Ông cho nó lên thớt, xoay mãi, ngắm mãi rồi mới hạ từng nhát dao. Thịt thái ra cũng chỉ vừa đủ cho từ một, hai bát. Những lát thịt mỏng, đúng thớ, đều tăm tắp lần lượt được xếp vào trong bát. Rồi rau thơm, rồi nước dùng, rồi đưa tới khách ăn.
Trong lòng bát men sứ trắng như lòng trắng trứng, những sợi phở trắng mềm như lụa, nước trong vắt, nếm thấy ngọt khắp khoang miệng, vài lát thịt nổi vân lên như thớ gỗ nằm hờ hững như một kẻ sĩ thời Đông Chu. Rau thơm thái nhỏ, vài cánh mùi xanh mướt mỏng manh, khách ăn cho thêm một hai lát ớt tươi đỏ thắm vào nữa…
Ăn phở phải ăn với chanh tươi, ớt tươi. Nội trong bát phở là một sự tập hợp hài hòa các màu nguyên, vị nguyên – bất cứ một thứ gì trong đó bị ngả màu là làm hỏng vẻ đẹp, cái ngon của bát phở.
À, hình như đó là cái lối ăn của ta. Những người có dịp đôi ba lần thưởng thức các món ăn Tàu đều công nhận người Tàu làm món ăn cầu kỳ không có đâu sánh kịp. Bảng các món của họ cũng là phong phú vượt bậc. Chỉ phải cái sự chế biến kỹ lưỡng quá đà nhiều khi làm mất vị ngon nguyên thủy của món ăn; con người văn minh đã áp chế thiên nhiên một cách tuyệt đối. Cá chẳng là cá nữa, chó chẳng là chó, chỉ còn rặt là các vị thuốc bổ.
Luộc (hay nướng) đấy là cách thức nấu ăn rất sơ khởi. Tôi là người thích ăn thịt gà rán nhưng chỉ có thể rán thịt gà công nghiệp được thôi chứ không bao giờ nỡ đem cách ấy đối xử với gà ta. Cái miếng thịt gà ta luộc lên nó thơm nưng nức, chấm muối lá chanh, ăn, tưởng như hưởng được tất cả hương vị của đất trời. Còn khi nghe một vị nói:
“Tôi ước hôm nào được một bữa ăn cá luộc” thì ta có thể tin chắc rằng kẻ đó là một kẻ sành ăn.
Ăn phở mà ăn với húng thì chưa phải kiểu, nhất là húng để cả cành cả cuống trong một cái rổ sắt.
Một lần vào ăn sáng ở Arc-en-ciel tôi thấy trên mặt bát phở có rau mùi thái rất đúng kiểu. Nghe nói nhà hàng này hợp doanh với một ông thợ phở nổi tiếng nhất Sài Gòn. Rau mùi, trong Nam kêu là ngò. Ngò trong Nam không thơm như mùi ngoài Bắc. Những người Bắc vào sống trong Nam đều kêu rau cỏ trong này không ngon. Rau muống rất rẻ, cũng rất non mà ăn thì nhạt. Rau cải bắp lúc nào cũng có nhưng trắng trợt, luộc lên ăn nhạt như ăn giấy.
Một ngày chủ nhật ở Hà Nội, chị vợ một anh bạn thết tôi một bữa chả nem. Người vợ bạn ấy nấu ăn tuyệt giỏi, món chả rất ngon, chỉ chán một nỗi là trong món rau sống, rau mùi không được thơm. Vài hôm sau nữa tôi lại được ăn chả nem, lần này thì rau mùi thơm, tôi nhớ ra rằng năm ấy rét muộn, chẳng qua là mấy hôm đó gió mùa đông bắc mới tràn về. Tôi nghiệm ra rằng có gió mùa đông bắc thì rau mùi mới thơm, hoa hồng mới nở bông to và thắm mượt. Càng áp Tết rau mùi càng thơm. Trời mưa lây phây, cùng bạn bè dọn một mâm rượu, chỉ ngồi nhấm nháp một hai cọng rau mùi cũng đủ thấy thú.
Phở hình như là thứ ăn nước. Khôn ăn cái, dại ăn nước. Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ, người khôn người đến chốn lao xao. Khách nhà giàu (hay làm ra vẻ người nhà giàu) bảo ông hàng phở “Cho ít bánh thôi”. Nhưng chỉ những người khách quen mới dám nói “Cho tôi một bát phở suông”.
Ăn phở người ta chẳng mấy khi cắn ớt cả miếng, dù chỉ là khoanh ớt nhỏ tí, vì sợ sốc lưỡi. Khoanh ớt đỏ như một cái vòng ngọc luôn làm người ta vui mắt, vị ớt cay tan ra trong nước, muốn ăn cay hơn thì cho thêm ớt, khi khách buông đũa đứng dậy, những khoanh ớt vẫn còn nằm nguyên trong đáy bát, dù là phải lúc ớt đắt, nhà hàng cũng không hề phàn nàn gì về sự lãng phí đó.
Vũ Bằng đã nâng phở lên là một “Món quà căn bản” mà tại sao lại còn cho rằng phở ngon là phải ăn liền vài ba bát không thấy chán? Đã là quà thì phải khác cơm. Không ai ăn liền hai bát phở cũng như không ai uống liền hai cốc cà phê.
Một cái quán cà phê ở phố Bàn Cờ. Nó không nổi tiếng và cũng không có ai là bậc tao nhân mặc khách thường xuyên lui tới. Một gia đình nề nếp, có treo bằng «Tổ quốc ghi công», một cô gái trẻ dáng chừng còn chưa kén được nơi, dáng chừng còn phải ở lại nhà để trông coi mẹ già và bảo ban bầy em nhỏ. Hàng mở từ sáu giờ sáng đến tầm chín mười giờ. Hôm nào tôi đi ăn sáng muộn, gặp vài ba câu chuyện, quay lại thì đã không có cà phê uống nữa rồi. Mà ngày nào cũng vậy, cả hàng chỉ có mươi mười lăm người khách ngồi chật các bàn, toàn những khách từ hôm qua hôm kia, kẻ đi với bạn thì chuyện trò, người đi một mình thì trầm ngâm ưu tư, mỗi người uống một ly cà phê, hút đến vài ba điếu thuốc lẻ, không có nhạc xập xình, mỗi ly cà phê chừng bằng hai tiền thứ cà phê bắp vẫn bán ở các đầu ve, nhưng mà ngon, đậm, vừa uống vào thấy mình đúng là đang được uống cà phê.
Có lần tôi nghe đài BBC giới thiệu một cuốn sách viết về cà phê, với lối pha kiểu Pháp, kiểu Anh, kiểu Thổ Nhĩ Kỳ… nhưng tuyệt nhiên không thấy nói đến kiểu Việt Nam. Ấy thế mà ông cụ thân sinh một anh bạn tôi khăng khăng cho rằng trên thế giới có ba trung tâm pha cà phê là Ba Lê, Luân Đôn và Hà Nội. Ông rất chê các lối uống cà phê của người Tây. Ông thừa biết rằng dân ta biết uống cà phê là do người Tây đưa vào và ở Hà Nội người ta vẫn rất ít uống hơn là ngay so với Sài Gòn.
Hình như tôi đã hết những chuyện về phở. Mà cho đến tận bây giờ tôi vẫn chưa biết phở là thế nào.
ĐHN











