Nhà phê bình Thụy Khuê từng trả lời phỏng vấn của tạp chí điện tử Da Màu về danh xưng của Văn học Hải ngoại. Giới thiệu đến bạn đọc bài phỏng vấn này qua sự cho phép của Thụy Khuê. Do tuần san Trẻ là báo giấy in nên số trang có hạn, đành bỏ câu hỏi đầu tiên của Đặng Thơ Thơ. Riêng với cá nhân tôi, có lẽ tên đúng nhất của Văn học Hải ngoại vào lúc này nên là danh xưng “Văn học Zombies”; vì chỉ còn là một xác chết tuy nhúc nhích động đậy nhưng không sinh khí.
[Trần Vũ]
Kỳ 1
Thụy Khuê trả lời phỏng vấn của Đặng Thơ Thơ
Đặng Thơ Thơ: Chuyện định danh, một tác giả trong nước cho rằng: “thuật ngữ văn học hải ngoại cần trở thành một phạm trù lịch sử, và nên thay thế bằng “Văn học (VN) ở nước ngoài”. Tác giả này, cho rằng hai chữ “hải ngoại” (bên ngoài biển) mất đi cơ sở thực tại của nó, một là, nó không đủ sức bao gộp cả một cộng đồng văn học VN rộng lớn trên toàn cầu; hai là mạng lưới Internet đã xoá nhòa ranh giới trong và ngoài nước ; và ba là, lịch sử đã sang trang, đất nước đã hòa hợp, vân vân… Một tác giả khác, cũng ở trong nước, cho rằng chỉ có “tác giả hải ngoại” chứ không hề có “văn học hải ngoại”, vì thế, duy trì danh xưng “văn học hải ngoại” là một hành động có màu sắc chính trị. Xin cô cho biết ý kiến về những nhận định này.
Thụy Khuê: Câu hỏi của Đặng Thơ Thơ thực ra là hai, vì có hai người cùng phát biểu về chuyện danh xưng Văn học Hải ngoại, nhưng với nhiều ý khác nhau. Tôi sẽ phân ra những đoạn nhỏ để trả lời cho rõ ràng.
- Về cái tên “Văn học hải ngoại”: Ngày trước, cũng đã có lúc ở hải ngoại mọi người đã bàn cãi về vấn đề định danh dữ lắm, và người ta đưa ra những tên như: văn học di tản, văn học di dân, văn học lưu vong, văn học ngoài nước, văn học hải ngoại v.v… rút cục hai chữ hải ngoại được phần đông chấp nhận rồi trở thành tên chính thức của thời kỳ văn học này. Bởi vì chữ di tản, chỉ cộng đồng người Việt bỏ nước ra đi sau 1975, phần lớn là những thuyền nhân; nhưng không phải người viết văn nào cũng thuộc thành phần này. Chữ di dân cũng không hợp, vì người Việt không “di dân”, chẳng ai tự ý bỏ nước ra đi để kiếm ăn. Về sau, người ta xin đi Mỹ để xin tiền trợ cấp, trong họ tôi có vài người như vậy, lại là chuyện khác. Chữ lưu vong cũng không ổn, bởi vì nhiều tác giả không viết về sự “lưu vong” của mình trong tác phẩm. Rút cục phải tìm ra một tên ít sai nhất và hai chữ hải ngoại được giữ lại như một định danh có tính cách địa lý, phi chính trị, và không phản lại nội dung của bất cứ tác phẩm nào.
- Tại sao gọi là Văn học hải ngoại mà không là Văn học ngoài nước? Hai chữ này đồng nghiã, nhưng sắc thái khác nhau: Hải ngoại là từ Hán Việt, tự nhiên “sang trọng” hơn ngoài nước, là từ nôm na thuần Việt. Khi đặt tên cho con, người ta dùng từ Hán Việt: Hùng, Dũng… mà không đặt tên là Rường, Cột, hay Cái Bàn, Cái Ghế… Vậy khi đặt tên cho dòng văn học của những người rời nước sau biến cố 1975, người ta chọn hai chữ hải ngoại “sang trọng” hơn hai chữ ngoài nước.
Nhưng không phải cứ dùng tiếng nôm là nôm na mách qué. Ví dụ như Văn học miền Nam là chữ nôm, nhưng có lẽ vì không tìm thấy từ Hán Việt thích hợp, để chỉ thời kỳ (1954-1975) nước ta chia làm hai miền Nam Bắc, miền nào có văn học của miền ấy. Hoặc những chữ Văn học quốc nội cũng là từ Hán Việt nhưng ít ai dùng, bởi hai chữ quốc nội nặng chình chịch vì có dấu nặng.
Sau khi những chữ Văn học hải ngoại đã được chọn rồi, thì tên này trở thành tên chính thức của nền văn học do người Việt xây dựng ở ngoài nước, sau ngày 30-4-1975.
Còn những chữ Văn học ngoài nước, như một quy ước, để chỉ sản phẩm văn học của nhiều thế hệ người Việt sống ở ngoài nước, từ Phạm Duy Khiêm, Hoàng Xuân Hãn đến ngày nay.

Nhà biên khảo Thụy Khuê
- Người viết và tác phẩm của Văn học hải ngoại: Kể từ thập niên 1990 trở đi, khi Khánh Trường ra tờ Hợp Lưu (1992), đăng các bài viết cả trong lẫn ngoài nước, thì diện mạo nền văn học này thay đổi hẳn: Văn học hải ngoại trở thành diễn đàn chung của các tác giả trong, ngoài với nội dung phong phú và đa dạng, so sánh với nền văn học trong nước lúc đó, sau thời kỳ đổi mới, lại bị hệ thống kiểm duyệt khắt khe đè nặng.
Cần phải nhắc đến tên những người đã đắc lực “chuyển lửa” giúp việc đưa các tác phẩm trong nước ra ngoài: Bạch Thái Quốc, từ những năm 1987-1988 (khi ấy anh đang quản trị Nhà Việt Nam, nơi bán các sản phẩm ở trong nước gửi ra) thường đi đi về về nước, và anh đã đem cho tôi nhiều tài liệu báo chí về nền “Văn học đổi mới” còn gọi là “Văn học phản kháng“, gồm những bài viết nổi tiếng của Nguyễn Minh Châu, Hoàng Ngọc Hiến, Nguyên Ngọc… và rất nhiều “cột trụ” khác của thời đó, nhất là các tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp, Dương Thu Hương, Phạm Thị Hoài… để tôi có thể viết bài giới thiệu trên tạp chí Văn Học của Nguyễn Mộng Giác và tạp chí Thế Kỷ 21 của Lê Đình Điểu, với sự giúp đỡ của anh Đỗ Ngọc Yến, giám đốc cơ sở Người Việt, anh Yến là người “khai sinh” ra làng báo hải ngoại, anh đã nhận tất cả bài vở tài liệu tôi gửi sang Mỹ bằng fax, vì lúc đó chưa có phương tiện nào nhanh hơn.
Từ năm 1990, Bạch Thái Quốc trở thành trưởng ban Việt Ngữ đài RFI, nên không về nước được nữa. Đỗ Khiêm là người đã đem văn thơ của các anh Lê Đạt, Hoàng Cầm, Đặng Đình Hưng và thơ của Hoàng Hưng ra ngoài và Đỗ Khiêm thường chụp cho tôi một bản, để tôi giới thiệu trên đài RFI. Đó là sự giúp đỡ âm thầm của những người có tâm với văn học, không có họ, chưa chắc Văn học hải ngoại đã có được diện mạo như thế.
Một số nhà nghiên cứu, phê bình trong nước như giáo sư Nguyễn Huệ Chi, nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên, là những người đầu tiên viết bài ủng hộ phong trào này trên báo Văn Học.
Tóm lại, Văn học hải ngoại, ngay từ những năm 1987-1988, đã giới thiệu “Văn học đổi mới” trong nước trên tạp chí Văn học, mặc dù Nguyễn Mộng Giác khá thủ cựu, không in bài của các tác giả (không phản kháng) ở trong nước. Nhưng từ khi Khánh Trường chủ trương tờ Hợp Lưu (1992), rồi Khế Iêm và Đỗ Khiêm chủ trương Tạp Chí Thơ (1994), thì hai tập san này tràn ngập các tác phẩm trong nước gửi ra, định danh Văn học hải ngoại bấy giờ đã có nghĩa là một nền Văn học Việt Nam khác, in ở nước ngoài. Tôi còn nhớ anh Lê Đạt chỉ mong nhận được Hợp Lưu và chờ Đỗ Khiêm mang Tạp Chí Thơ về cho anh, anh rất thích thú khi đọc những tờ báo ấy.
- Trở lại việc định danh: Việc định danh bao giờ cũng có tính cách hình thức và bao quát, mà văn chương nghệ thuật là nội dung và cá nhân. Trên nguyên tắc, không thể lấy hình thức để định danh cho nội dung, và cũng không thể lấy cái chung để định hình cho cái riêng. Bởi vì bản chất của văn nghệ không cho phép ta làm việc này: Một bài văn, bài thơ, bản nhạc, bức tranh chỉ trở thành tác phẩm nghệ thuật, khi người sáng tác hoà tan được hình thức trong nội dung, tức là nhìn những bức tranh của Lê Thị Lựu(1), người ta không chỉ thấy những nét vẽ của trường phái ấn tượng, mà người ta thấy cả một phần, thân phận phụ nữ những năm 30 của thế kỷ trước, thấy sự đài các của Hà thành, thấy không khí thơ mộng của rừng xanh và các cô gái Thổ trong lời ca Phạm Duy, Văn Cao, Ngọc Bích, Trần Hoàn… Không khí thơ mộng này các nhạc sĩ tung ra để cám dỗ các chàng trai lên đường cứu nước và che đậy thực tại chết chóc kinh hoàng của cuộc kháng chiến chống Pháp. Tất cả những ảnh thực, ảnh ảo, thông qua hội họa hay âm nhạc của thời kỳ được gọi là Văn nghệ tiền chiến, đã rất bao la, không thể đếm được, chưa kể thơ văn, cho nên một sự gọi tên làm sao có thể bao trùm lên tất cả những tác phẩm vô cùng khác nhau. Và đối với Văn học hải ngoại, ta cũng không thể nhét những Nguyễn Mộng Giác, Võ Đình, Hoàng Cầm, Lê Đạt, Đỗ Khiêm, Trần Vũ, Hoàng Hưng, Phạm Thị Hoài vv… vào trong một cái khung tên, rồi bàn cãi có nên “cho” họ vào được không. Bởi vì, khi người cầm bút đã thành danh, mỗi người là một vì sao. Việc họ ở đâu, trong hay ngoài, Hà Nội, Sài gòn, hay Cao Bằng, Cà Mau, Bến Hải, không ai chú ý đến nữa. Chẳng ai hỏi Nguyễn Du có “phản động” không, theo Quang Trung hay Gia Long, thuộc dòng văn chương nào ? Lê Bá Đảng thuộc trường phái gì, quê quán ở đâu? Là vì vậy.
Nhưng người ta vẫn bắt buộc phải định danh, để có tên gọi và để phân đoạn văn học sử.
Hiềm vì sự định danh trong hiện tại luôn luôn đi đôi với sự định ranh, và lòng người cũng thích định ranh, mặc dù họ luôn luôn nói không còn ranh giới trong, ngoài. Nhưng đối với những người làm văn học sử, việc định danh là cần thiết, bởi vì họ bắt buộc phải chia văn học ra từng thời kỳ, khuynh hướng: Văn học miền Nam, Văn học miền Bắc, Văn học hải ngoại vv… chưa kể còn phải chia từng văn đoàn, các nhóm này, nhóm kia. Tất cả đều là các hình thức phân chia ranh giới. Vì vậy, sự định danh văn học, luôn luôn có chính trị lọt vào.
- Có cần phải đổi tên? Bây giờ, theo Đặng Thơ Thơ, có người ở trong nước, lại muốn đổi tên văn học hải ngoại thành văn học ngoài nước. Cũng được thôi. Nhưng tôi nghĩ người viết câu này, không rõ lắm về những thăng trầm biến đổi của nền văn học này, tôi chắc người ấy cũng không đọc văn học hải ngoại và chỉ muốn dùng chữ nôm ngoài nước như tôi đã nói ở trên, với ý “cải thiện” nhưng lại có vẻ như ở trong “truyền thống” muốn hạ thấp giá trị đối phương, đã có từ trước 1975. Tôi xin giải thích:
Miền Bắc (chính quyền và nhân dân) thường tự ý coi mình là “chính” đạo, là “cả” nước, và coi miền Nam là “tà”, là “ngụy”. Nhẹ nhàng hơn, miền Bắc gọi miền Nam là”vùng tạm chiếm“, họ không “công nhận” vùng này có một nền văn học, vì họ định danh nền văn học chính thức của miền Nam là “Văn học giải phóng miền Nam“, tức là của những người sống ở trong bưng biền, mà người miền Nam gọi là Việt cộng. Ngược lại, ở miền Nam, người hiểu biết thì gọi văn học miền bắc (sông Bến Hải) là Văn học miền Bắc, còn những người khác gọi đó là Văn học Cộng sản, thay vì Văn học dưới thời Cộng sản vv…
Bảo rằng phải đổi tên “Văn học Hải ngoại” thành “Văn học (VN) ở nước ngoài“, vì cái tên hải ngoại “một là, không đủ sức bao gộp cả một cộng đồng văn học VN rộng lớn trên toàn cầu; hai là mạng lưới Internet đã xoá nhòa ranh giới trong và ngoài nước và ba là, lịch sử đã sang trang, đất nước đã hòa hợp, vân vân…” tôi thấy những cớ này không mấy thuyết phục, vì những lý do sau đây:
– Lý thứ nhất: cái tên Văn học hải ngoại “không đủ sức bao gộp cả một cộng đồng văn học VN rộng lớn trên toàn cầu“. Thực ra làm gì có một cộng đồng văn học VN rộng lớn trên toàn cầu? Các nhà văn Việt Nam sống ở hải ngoại đếm được bao nhiêu, trên hàng tỷ nhân mạng toàn cầu? Và nhất là Văn học hải ngoại, kể từ thập niên 1990, đã có phần đóng góp không nhỏ của các nhà văn, nhà thơ trong nước.
– Câu “Hai là Internet đã xoá nhòa ranh giới trong và ngoài nước và ba là, lịch sử đã sang trang, đất nước đã hòa hợp” cũng không đúng sự thật.
Nói rằng:“Internet đã xóa nhoà ranh giới trong và ngoài nước“, cũng chẳng khác gì nói Internet đã xoá nhòa mọi biên giới: không còn sự phân biệt quốc gia, chủng tộc, tiếng nói, văn chương, gì nữa… Theo tôi hiểu, câu này chỉ đắp lên một thực tại mà người viết không dám nói ra: Internet xoá nhoà sự kiểm duyệt, mà ở trong nước bây giờ, dù chính quyền đã nới rộng chính sách với Việt kiều (về nước không cần visa) và nhiều tác giả hải ngoại đã về in sách ở trong nước, nhưng sự kiểm duyệt vẫn còn mạnh. Những sách giá trị của Văn học miền Nam vẫn chưa được phép xuất hiện trên văn đàn.
Tuy nhiên, từ những năm 1990, khi tôi tiếp xúc với một số nhà nghiên cứu, phê bình miền Bắc, tôi đã thấy khuynh hướng của họ là nhìn nhận văn học miền Nam như một bộ phận của văn học Việt Nam. Nếu tôi nhớ không lầm thì Giáo sư Nguyễn Huệ Chi đi trước với bài viết đăng trên Văn Học, rồi đến nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên (tôi không nhớ rõ năm nào, vì hiện đang ở xa Paris, không có tài liệu trong tay). Ở trong nước thì nhà phê bình Vương Trí Nhàn viết và trả lời phỏng vấn nhiều lần về Văn học miền Nam.
Khoảng năm 1999, anh Nguyễn Huệ Chi phụ trách việc làm Tự điển Văn học bộ mới đã nhờ tôi soạn một số tác giả của Văn học miền Nam. Nhờ thế mà Dương Nghiễm Mậu được độc giả trong nước biết đến khá sớm. Nhưng lúc đó còn hạn chế lắm, những tác giả “gạo cội” như Mai Thảo, Võ Phiến, Thanh Tâm Tuyền… bị gạt hẳn, chờ đến chuyến sau, anh Huệ Chi bảo vậy. Năm 2018, anh Nguyễn Huệ Chi lại chuẩn bị tái bản Tự điển Văn học bộ mới với toàn bộ các nhà văn Việt Nam và vẫn nhờ tôi cộng tác, nhưng rồi cho đến nay vẫn chưa có động tĩnh gì. Tôi nghĩ sự khựng lại này không hoàn toàn do quyết định của chính quyền mà còn ở trong đầu óc những con người được giáo dục từ nhỏ về việc kiểm tra, kiểm điểm, không dễ gì mà gột rửa được, và họ vẫn giữ địa vị chủ chốt trong việc cấp phép in, hoặc đã về hưu, nhưng vẫn còn ảnh hưởng.
Nhờ Internet, giới trẻ tiếp cận với đủ loại thông tin, họ không còn ở trong tình trạng dạy gì, nghe nấy nữa, và họ chính là tương lai của dân tộc. Ở những người trẻ này, tôi thấy tinh thần tự kiểm duyệt bớt hẳn: làm công việc biên tập, họ tôn trọng văn bản của tác giả, không sửa, không cắt bỏ những chữ không đúng với đường lối vv… Cho nên, có thể nói rằng: khi những người (già) suốt đời sống trong chế độ kiểm duyệt còn cầm đầu hay ảnh hưởng đến những cơ quan đầu não xuất bản, thì sự kiểm duyệt vẫn còn, và các sách hay được họ coi là “nhạy cảm” vẫn chưa có thể in ở trong nước, trừ một số nhà xuất bản trẻ can đảm, dám làm.
Văn học miền Nam chưa được in lại, một phần cũng vì những người đó. Không ai quên việc sách Dương Nghiễm Mậu in ra bị Vũ Hạnh tố cáo, sau bị tịch thu. Hiện nay âm nhạc miền Nam đã trở lại gần như bình thường trên các kênh truyền hình ở miền Nam và người ta chờ đợi Văn học miền Nam sẽ xuất hiện trở lại như thế. Nhưng mọi việc vẫn còn trì trệ, có thể còn vì sự ganh tỵ của đồng nghiệp nữa, in ra sợ độc giả thấy “chúng nó” hay hơn mình.
6.Về câu “Lịch sử đã sang trang, đất nước đã hòa hợp” Câu này, theo tôi chỉ là một xác định bề ngoài, như một khẩu hiệu học thuộc lòng, chưa nói lên sự thực: Lịch sử đã sang trang từ bao giờ? Ai cho phép sang trang? Trong chương trình lễ kỷ niệm 50 năm ngày 30 tháng tư 2025 vừa qua, trên các kênh truyền hình, các bài diễn văn vẫn ca tụng chiến thắng đánh cho Mỹ cút ngụy nhào, thì làm sao mà sang trang cho được?
Riêng về sự sang trang trong văn chương nghệ thuật đã có từ rất sớm, ở những đầu óc khai phóng; chính dòng chảy đó, phơi bày tâm tư của quần chúng thầm lặng và là bằng chứng về sự hòa hợp dân tộc ngay sau ngày 30-4.
Thực thế, Văn học hải ngoại, theo tôi, bắt đầu với báo Hồn Việt Nam, số 1 phát hành ngày 15-10-1975, tại Paris, in ronéo, của nhà thơ Minh Đức Hoài Trinh. (Khi biến cố 30-4 xẩy ra, bà đang đi họp Văn Bút quốc tế ở nước ngoài). Tiếp theo là những tờ: Quê mẹ của Võ Văn Ái ở Paris, ra đời đầu năm 1976. Quê hương của Du Tử Lê ở Costa Mesa, đầu năm 1976.Đất Mới của Huy Quang Vũ Đức Vinh, ra từ trước nhưng đến tháng 4-1976, có Thanh Nam và Túy Hồng tham dự, mới thực sự khởi sắc…
Minh Đức Hoài Trinh cho biết bà đã đọc tin tức ở các báo làm trong trại tị nạn.
Hồn Việt Nam là tờ báo tôi được đọc từ những số đầu, thấy chỉ có khuynh hướng thông tin, như: “Hoài Trung và gia đình Phạm Duy đã sang Mỹ. Thái Thanh, Mai Thảo, Hoài Bắc ở lại vv…”. Sau đó là khuynh hướng hòa nhập vào một nước Việt thống nhất. Trong số báo ra ngày 15-5-76, “kỷ niệm đệ nhất chu niên ngày ly hành“, Minh Đức Hoài Trinh cho đăng bài thơ “Chiến tranh hết rồi” của bà, trong có những câu:
“Sông núi ơi! Vùng lên mà ca hát
Khúc thanh bình gào đến tận muôn phương
Hiền cỏ cây nghiêng đầu ru gió mát
Dười mặt trời, gỗ đá cũng yêu đương”
Minh Đức Hoài Trinh đã từng là nàng thơ trong kháng chiến, rồi tan tác, bây giờ gặp lại hai câu thơ của Văn Cao, như một hội ngộ thiêng liêng:
“Từ đây người biết thương người,
Từ đây người biết yêu người“
trong bản nhạc Mùa xuân đầu tiên của Văn Cao, sáng tác vào dịp Tết Bính Thìn (1976) ở Hà Nội. Bị cấm trong 20 năm.
Thanh Nam trên báo Hồn Việt Xuân Đinh Tỵ (1977), kỷ niệm một năm ngày 30-4, ở Mỹ, có những câu thơ:
“Về đây chung phận chung đời
Chung tay tiếp lửa đẩy lùi bóng đêm
Thôi, chào quá khứ ngủ yên
Những đau thương cũ vùi quên cuối trời.”
(Buổi đầu, Seatle 30-4-76, trong tập Đất khách)
Nhưng rồi hơn một năm sau, tin cái chết của Vũ Hoàng Chương vài ngày sau khi được thả tù cải tạo lọt ra ngoài, việc đốt sách ở miền Nam, người đi cải tạo không về, người vượt biển đắm thuyền, nạn hải tặc trên vịnh Thái Lan… đã tiêu diệt “Khúc thanh bình” của Minh Đức Hoài Trinh, đã dập tắt những ngọn đuốc “đẩy lùi bóng đêm” của Thanh Nam. Nhà thơ đau đớn viết: “Xót thân vô dụng, một đời nín câm“, trước khi qua đời. Lời hát Văn Cao chìm trong băng giá. Và Văn học Hải ngoại bỏ dần khuynh hướng hòa hợp để đi đến đối đầu.
Thập niên 1980-1990, những sự “mất nước” và “căm thù cộng sản” dâng lên hừng hực.
Năm 1990, tôi nhận cộng tác với ban Việt ngữ đài RFI, vừa ra đời, do Bạch Thái Quốc làm trưởng ban. Với sự đồng ý của Quốc, tôi lập ra chương trình Văn học Nghệ thuật và đi con đường riêng của mình. Tôi đã tiếp xúc với các bậc đàn anh trong văn nghệ và học hỏi được nhiều kinh nghiệm ngay từ ngày ấy: Liên lạc để xin phỏng vấn ba người: nhạc sĩ Phạm Duy, nhà văn Mai Thảo và nhà văn Võ Phiến. Cả ba đều vui vẻ nhận lời ngay. Nhạc sĩ Phạm Duy là nghệ sĩ, có đầu óc tự do như ăn với thở, bạn bè cũ của ông ở miền Bắc đầy rẫy, nên không nói làm gì. Nhà văn Mai Thảo rất ghét cộng sản, bạn bè ông bị bắt đi cải tạo và bản thân ông ở lại, cũng bị lùng bắt, nhưng ông không từ chối phỏng vấn và ông đã giúp tôi rất nhiều trong những bước đầu vô cùng khó khăn này, bởi vì ông là người tôn trọng tự do của người khác dù ông không đồng ý với việc tôi làm (tiếp xúc với văn nghệ sĩ miền Bắc). Ông Võ Phiến cũng nhận lời phỏng vấn, nhưng rồi ông từ chối, lấy cớ bận, sau tôi biết ông được người ta thông báo đài này thiên cộng.
Tôi còn nhớ khi nhạc sĩ Phạm Duy qua đời, tôi viết bài tưởng niệm ông, gửi đăng một tờ báo lớn mà tôi cộng tác thường xuyên đã nhiều năm, bị từ chối. Tết năm ấy, một tờ báo khác, vẫn xin bài đăng báo xuân, tôi gửi một bài khác viết về Phạm Duy, cũng bị từ chối. Đến khi một người bạn tổ chức đêm nhạc Phạm Duy ở Paris, nhờ tôi nói lời mở đầu. Tôi đã nói hết những sự vô ơn đối với Phạm Duy cho đến khi ông chết, chỉ vì ông tự ý về nước, của một cộng đồng suốt đời được nuôi sống bằng nhạc Phạm Duy. Và tôi đã được khán thính giả hoan hô nhiệt liệt.
Vì vậy, tôi không biết khi viết câu: “đất nước đã hòa hợp” tác giả muốn nói đất nước nào, với những ai? Có phải là những giấc mơ hòa hợp dân tộc, đã chết yểu của Minh Đức Hoài Trinh, Văn Cao, Thanh Nam sau ngày 30-4-1975? hay những bài diễn văn chính thức, những khẩu hiệu dán trên đường phố Sài gòn ngày 30-4-2025; hay những tư tưởng chấp nhận nhau, dù không đồng ý, của Mai Thảo hay những lời nhục mạ Phạm Duy, những tràng pháo tay cho tôi đêm ấy… Bởi vì dòng máu hòa hợp dân tộc vẫn chảy trong tim người Việt từ 50 năm qua, chưa bao giờ ngừng, nhưng luôn luôn bị những ayatollah ở trong và ngoài nước, chặn lại.
- Chỉ có tác giả hải ngoại chứ không hề có văn học hải ngoại?
Đặng Thơ Thơ viết: “Một tác giả khác, cũng ở trong nước, cho rằng chỉ có “tác giả hải ngoại” chứ không hề có “văn học hải ngoại”, vì thế, duy trì danh xưng “văn học hải ngoại” là một hành động có màu sắc chính trị”.
Danh xưng, như tôi đã nói ở trên, cần cho việc viết văn học sử. Cái tên “Văn học hải ngoại” được người ta đặt ra từ 40, 50 năm nay rồi. Bây giờ bạn muốn đổi cái tên ấy đi, lấy cớ rằng: không hề có “văn học hải ngoại”. Cũng chẳng sao, cái đó tùy bạn.
Nhưng bạn cũng nên biết: Dù bạn xác nhận là có hay không, thì các tác phẩm của Văn học Hải ngoại, trong 50 năm qua, vẫn lù lù ra đó. Cho nên câu: “chỉ có “tác giả hải ngoại” chứ không hề có “văn học hải ngoại”, là một xác định phiêu lưu, vô ích. Tôi đoán bạn muốn nói: “chỉ có người viết ở hải ngoại, chứ không hề có nền văn học hải ngoại, vì những người viết ở hải ngoại này chưa có khả năng làm ra được một nền văn học”. Nói như vậy là có ý miệt thị lắm đó, hơi giống việc ngày trước người ta không “công nhận”Văn học miền Nam.
Và nói như vậy là bạn không sành văn chương, bạn không rõ bản lĩnh của chữ nghĩa, bởi vì chữ nghĩa rất cứng đầu, nó không quỳ lạy trước lời “nhận định” của bất cứ cá nhân nào, không phải vì bạn là một ông quan lớn hay một nhà phê bình đại tài mà bạn có thể phán rằng: cái nền văn học này có, cái nền văn học kia không, là nó nghe ngay. Bộ sách dầy cộp của ông quan văn Trần Trọng Đăng Đàn, bìa cứng như cuốn thánh kinh, với đầy đủ tài liệu tên tác giả và tên sách cần khai tử củaVăn học miền Nam, chỉ một thời gian sau là bị quá đát, không biết bây giờ còn có giá trị gì, cho ai. Tóm lại, tất cả mọi dự định xoá sổ bất cứ một nền văn học nào, cũng thất bại cả.
(còn tiếp 1 kỳ)
(1) Có thể xem trên website của Bảo Tàng Mỹ thuật thành phố HCM.









