Số phận con bò rừng

“Hãy giết chúng, lột da và bán, cho đến khi buffalo diệt chủng, đó là cách duy nhất để đem lại hòa bình vĩnh viễn và văn minh tiến bộ cho vùng đất này.” Tướng Philip Sheridan, anh hùng của nội chiến nhưng cũng là một sĩ quan tàn nhẫn, quyết chinh phạt miền Tây đã tuyên bố như vậy.

so-phan-con-bo-rung1
Buffalo ở Vườn quốc gia Yellowstone

Khi Lewis và Clark làm nhiệm vụ lịch sử khám phá miền Viễn Tây để lập quốc năm 1806, hai ông đã thấy ở S. Dakota: “Chúng đi bạt ngàn… đen sẫm cả vùng đồng cỏ.” Và trong chuyến trở về, họ đã chờ hàng giờ khi ngàn con bò rừng vượt sông. Những con buffalo ở Mỹ (xin tạm dịch là bò rừng*) đã vượt qua dải đất Bering nối liền Châu Á và Châu Mỹ ngày xưa ở Alaska, sau đó chúng xuôi về Nam, đến tận Mễ Tây Cơ, Florida. Chúng tập trung đông nhất ở vùng Trung Mỹ, từ rặng Rocky Mountain đến bờ Tây Mississippi. Ước chừng có từ 60 – 70 triệu con trên đất Mỹ khi Kha Luân Bố đặt chân đến. Buffalo đực và cái đều có sừng cong. Con đực (bull) cao to đến hơn 1.5m, nặng cả tấn, đầu to với bướu cao phủ rậm lông nâu và mông nhỏ. Con cái (cow) thì nhỏ con và ít lông trên đầu. Chúng trông chậm chạp nhưng khi gặp nguy có thể chạy nhanh, bền bỉ đến 30 dặm một giờ. Mùa xuân chúng rụng bộ lông ấm dày che lạnh của mùa đông, lông chúng bám tả tơi như mền rách trên da. Ðể rũ sạch lông và đã ngứa, chúng thường cọ lưng vào đá to hay cây rừng, để lại cái đầu rậm lông. Ðến cuối hè là mùa giao hoan và xuân năm sau là bò con ra đời. Chúng bám theo bò mẹ gặm cỏ và bú sữa cho đến 1 năm. Tuổi thọ của bò rừng là 20 năm.

so-phan-con-bo-rung4
Người da đỏ thờ cúng sọ buffalo Edward S. Curtis Collection, Library of Congress

Từ năm 1800 bắt đầu ở bờ đông sông Mississippi đã thưa các đàn bò rừng, chúng bị giết để bảo vệ mùa màng và gia súc của dân chúng. Nhưng ở miền Trung Mỹ thì nhiều vô số, chúng đi thành từng đàn đen nghịt cánh đồng, khi chúng chạy ngang thì mặt đất bị cày nát vang tiếng sấm động ầm ì, mịt mù bụi đỏ. Chúng có ở khắp nơi, chờ một đàn bò rừng ngàn con dài đến vài dặm, băng qua sông suối có khi mất ngày trời, Chúng nhiều đến nỗi người Mỹ tin rằng không làm sao giết hết. Khi nội chiến chấm dứt thì nền kinh tế Mỹ cũng đã kiệt quệ, cuộc di dân về miền Tây rầm rộ, và tiếng còi hỏa xa cũng là tiếng chuông báo hiệu cáo chung cho bò rừng mở màn. Trước đó thổ dân sinh sống và di chuyển theo đàn bò rừng. Bò rừng là nguồn sống của họ. Họ giết bò rừng lấy xương sọ thờ cúng; sừng dùng làm muỗng, ly và đồ trang sức; răng bò làm vòng treo trang trí và lễ lạt; xương dùng làm dao, mũi tên, xúc đất, chày giã; da làm thuyền, lều, chăn, áo quần, giày dép; lông bò làm nệm gối, dây thừng; lấy thịt để nuôi sống bộ lạc từ thịt bò khô đến gan lòng; đuôi bò dùng làm cọ, chổi, dây cương; mỡ bò làm đèn cầy, nấu ăn; móng vuốt làm keo; phân bò làm củi đốt… Thổ dân sống cùng với bò rừng. Họ chỉ giết đủ dùng với số lượng nhỏ nhoi bằng cung tên, và xem bò rừng là con vật linh thiêng. Lễ hội Buffalo Dance, thổ dân đội đầu con bò rừng, mặc áo da bò rừng, thờ cúng bộ xương sọ bò rừng, nhảy múa khi mùa xuân về ấm áp, cỏ non xanh tươi, là một phần trong các lễ hội Sun Dance cảm tạ đất trời và Bò rừng đã đem lại đời sống cho thổ dân.

so-phan-con-bo-rung2
Da buffalo chờ vận chuyển ở Dodge City 1870s Kansas State Historical Society

Khi nước Mỹ mở mang về phía tây, các đồn trại lính trải dọc theo các đường mòn di dân, lính tráng cần lương thực. Cùng thời gian đó các đường hỏa xa bắt đầu lót mình đến mọi ngõ ngách xa xôi hoang vắng, các người thợ làm đường sắt cũng cần lương thực. Nền cách mạng công nghệ của Mỹ bắt đầu chuyển mình, bao vật dụng, thiết bị và hàng hóa đều trực tiếp hay gián tiếp cần đến buffalo. Các bộ da bền chắc làm áo, mũ, bao tay, dây kéo (belt), dây thừng, yên xe ngựa, xe khách…Xương bò rừng được xay làm phân bón cho các trang trại. Móng vuốt bò được nấu chảy làm keo dán. Ngay cả lưỡi bò trở thành món đặc biệt cho các nhà hàng sang trọng. Nghề săn bò rừng trở nên thịnh hành và phát triển, thợ săn làm việc suốt bốn mùa.

so-phan-con-bo-rung
Tranh vẽ săn bò rừng bằng tàu lửa

Ðồn Leavenworth, Kansas trở thành nơi trao đổi mua bán và thuộc da. Các tay thợ săn với súng săn nòng dài có thể giết đến 250 con bò rừng một ngày. Giá được trả là 5 đô một con, 3 đô một bộ da bò, 25 xu cho cái lưỡi bò, mức thu nhập hào phóng để cuốn hút hàng trăm tay súng và nhân viên chính quyền như Wyatt Earp, Bat Masterson, Pat Garrett, Wild Bill Hickok… ngay cả Teddy Roosevelt cũng là tay cao-bồi chính hiệu săn bò rừng giải trí. Vào những năm 1800 có chừng 5 ngàn người thợ săn và lột da tham gia. Quảng cáo của các công ty hỏa xa đã khuyến khích mọi người đi chơi, đi săn về miền Tây. Người ta có thể ngồi trên xe lửa để bắn bò rừng, bắn để mua vui. lắm khi mang về cái sừng bò làm kỷ niệm, lắm khi để đếm thành tích cuộc chơi. Xác bò rừng nằm phơi khắp ven đường rầy. Các đường hỏa xa cũng chở về các nguồn da bò và phân bón từ xương bò để chở về miền Ðông nước Mỹ, giá 4-6 đô cho một tấn xương. William Frederick Cody biệt danh Buffalo Bill, một tay săn nổi tiếng miền Tây, từng làm cho Pony Express đưa thư, sau đó tham gia công ty Hỏa xa Kansas Pacific. Trong 8 tháng, Bill giết gần 5 ngàn con bò, cung cấp lương thực cho 1,200 công nhân làm đường rầy. Bill nổi tiếng sành sỏi ở miền Tây đến mức các Tổng thống Mỹ từ Grant đến Woodrow Wilson phải tham khảo, hội ý với Bill khi bàn về miền Tây.

so-phan-con-bo-rung3
Xương bò chất đống chờ xay làm phân bón, 1870

Thổ dân hẳn nhiên căm giận và nổi dậy. Họ đánh phá các trại định cư, lật đường rầy xe lửa. Cuộc chiến không cân sức bắt đầu và cũng là dấu hiệu cáo chung các đàn bò rừng, thấm đẫm các đường mòn nước mắt và nỗi oán hận của những người da đỏ. Quân đội Mỹ đã thực thi trọn vẹn nhiệm vụ mở mang bờ cõi, song hành với việc tiêu diệt bò rừng và đàn áp thổ dân. Chỉ trong vòng 15 năm các đàn bò rừng gần như tuyệt chủng. Vào năm 1884 ước chừng chỉ còn khoảng 2 ngàn bò rừng khắp nước Mỹ. Nhiều dự luật và tiếng nói nhằm ngăn chặn việc tuyệt chủng này. Năm 1875 Lập pháp Texas bàn thảo dự luật bảo vệ bò rừng, nhưng Tướng Philip Sheridan chống đối. Mãi đến năm 1872 Công viên Quốc gia Yellowstone mới được lập ra bảo vệ bò rừng. Và đến năm 1894, đạo luật Lacey cấm săn bắn bò rừng và các động vật hoang dã trong khu vực bảo tồn của liên bang. Vài người như Charles Goodnight đã nuôi những đàn nhỏ trong trang trại của mình. Ðến năm 1949 thì bò rừng được thấy ở trong các sở thú, vài trang trại ở Hạt Armstrong và Nolan cùng các trang trại khác ở Trung Tây, Nam Tây và phía Tây. Hiện nay có chừng 200 ngàn bò rừng đã trở thành bầy đàn trở lại. Phần lớn chúng thuộc các trang trại tư nhân như Ted Turner, sáng lập CNN, có 55 ngàn bò rừng. Thịt chúng được cung cấp cho 45 nhà hàng Ted’s Montana Grill trên khắp 16 tiểu bang. Ngày 9 tháng 5, 2016, Tổng thống Obama ký sắc luật chọn con bò rừng làm Ðộng Vật Quốc Gia, cùng với con Ó, biểu tượng cho nước Mỹ. Bò rừng không còn nguy cơ bị diệt chủng nhưng chúng không bao giờ có thể trở lại một thời rong ruổi làm bá chủ miền Tây hoang dã.

SB

*Con buffalo ở Mỹ thực ra là bison (bò rừng). Theo Vườn Quốc Gia Yellowstone thì không có giống buffalo (trâu) ở Bắc Mỹ, khi người Châu Âu đến khám phá vùng đất này họ thấy con bison này giống buffalo. Từ buffalo có nguồn gốc từ tiếng Latin là bufalus nghĩa là “wild ox”, trâu hoang, trâu rừng.

SHARE

NO COMMENTS

LEAVE A REPLY