Sayonara anh Bích

Anh Nguyễn Ngọc Bích mất đã hơn mười hôm, vậy mà tới nay tôi mới viết được vài dòng tưởng niệm anh. Như vậy là quá trễ muộn và coi như thiếu cái tình với anh Bích. Tôi xin chân thành nhận lỗi.

Có sự chậm trễ nói trên không phải là mình không quý mến anh. Một người như anh Nguyễn Ngọc Bích được kính trọng, yêu quý là điều dễ hiểu: Học vị cao, hiểu biết rộng và với tấm lòng yêu nước, nhiệt tâm phụng sự, anh Bích đã tham gia hầu hết các hoạt động văn hóa, dân chủ ở hải ngoại. Trong lãnh vực này, anh là người vô địch. Với nụ cười thân ái, cử chỉ niềm nở, lời nói chân tình, suy nghĩ chín chắn và sâu sắc, anh được mọi người yêu mến, quý trọng. Cái chết đột ngột của anh trên chuyến bay từ Washington DC đến Manilla dự hội nghị dân chủ khiến anh em bàng hoàng xúc động và càng thêm cảm phục anh.

Ngoài ra trên lãnh vực trứ tác, anh Nguyễn Ngọc Bích cũng đã có nhiều công lao đóng góp. Trước hiết phải kể đến A Thousand Years of Vietnamese Poetry (“Một nghìn năm thi ca VN,” Knopf, 1975). gồm nhiều áng thơ cổ của Khổng Lộ, Đạo Hạnh, của Trần Nhân Tông, Trần Quang Khải, Nguyễn Trãi, Hồ Xuân Hương; thơ tiền chiến của Huy Cận, Thế Lữ và thơ hiện đại của Nguyên Sa, Du Tử Lê, Nhã Ca, Trụ Vũ. Ngay cả thơ của Trần Dần, Chế Lan Viên cũng có. Ngoài ra còn có A Mothers Lullaby (dịch Trường Ca Lời Mẹ Ru của Trương Anh Thuỵ), War & Exile: A Vietnamese Anthology (“Chiến-tranh và Lưu Đày: Tuyển-tập văn-học hiện-đại của VN”), dịch thơ Nguyễn Chí Thiện (Ngục Ca / Prison Songs và Cung Oán Ngâm Khúc / Complaints of an Odalisque, dịch thơ Ôn Như hầu Nguyễn Gia Thiều.

Ngoài việc hiệu đính thơ Hồ Xuân Hương: Tác-phẩm (Tổ Hợp XBMĐ Hoa Kỳ, 2000), ông cũng đã dịch hai cuốn sách về mỹ-thuật VN, Vietnamese Architecture (Sứ-quán VNCH tại Mỹ, 1972) và An Ocean Apart: Contemporary Vietnamese Art from the United States and Vietnam (“Nghìn Trùng Xa Cách,” Smithsonian, 1995) cũng như giới thiệu thơ Ba-tư trong cuốn Omar Khayyam: Thơ và Đời (Tổ Hợp XBMĐ Hoa Kỳ, 2002).”

Như một bạn văn của anh Nguyễn Ngọc Bích đã nói, anh Bích mất đi là cả “một thư viện bốc cháy”. Bao giờ, bao giờ chúng ta mới có được một người như anh Bích. Anh vừa thông tuệ, vừa hiền đức, lại nhiệt tình và cởi mở, hoạt động không biết mệt mỏi. Chia tay anh Bích là chia tay cả một thời kỳ của Việt Nam.

Với Nguyễn, anh Bích có một chỗ đứng đặc biệt. Không là bạn của nhau, như Nguyễn với Ngô Vương Toại, Nguyễn Minh Diễm, Đinh Cường… mối giao tình của Nguyễn và anh Bích chỉ thuần chữ nghĩa. Chúng tôi quen biết nhau dễ cũng đã hơn mười lăm năm. Người giới thiệu tôi với anh Bích chắc là Nguyễn Minh Diễm. Qua thời gian, tôi được gặp anh Bích nhiều lần. Ở DC và ở Dallas này. Tôi cũng đã được đọc một số trang anh Bích viết, nghe anh Bích nói chuyện, ca hát và ngâm thơ. Còn một điều nữa cũng cần nhắc lại ở đây tuy có hơi riêng tư và dễ bị hiểu lầm nhưng vẫn phải nói: Chính anh Nguyễn Ngọc Bích và một số anh em trên đài RFA như Nguyễn Minh Diễm, Ngô Vương Toại, Thanh Trúc… đã đứng ra giới thiệu tập thơ Tôi Cùng Gió Mùa của tôi ở DC. Và năm 2013, cũng ở DC anh Bích một lần nữa đã nói về thơ tôi. Đây là lời anh Bích được Nguyễn Thị Thanh Bình kể lại: “Tôi đã được giới thiệu thơ của anh Nguyễn Xuân Thiệp, Tôi Cùng Gió Mùa, cách đây 15 năm, vào năm 1998. Lần đó tôi đã nhắc đến nhạc-tính rất nổi trong thơ Nguyễn Xuân Thiệp và tôi còn so sánh thơ của anh với nhạc Jazz của Mỹ.” Lần này, trong tập thơ mới xuất bản của anh, Thơ Nguyễn Xuân Thiệp, đặc-tính đó vẫn còn đậm đặc. Nhưng thơ Nguyễn Xuân Thiệp còn mới trong nhiều nghĩa, vẫn lời của anh Bích. Trước hết toàn-tập hầu như là thơ tự do, không vần, ngắt câu bằng dấu chấm giữa dòng, ngay cả trong một bài ngũ ngôn, sau nữa là điển-tích rất nhiều nhưng không phải là điển-tích Trung-hoa mà là những điển-tích Tây-phương đầy dẫy chung quanh chúng ta: nhạc Beatles, Blues & Jazz Alley và New Orleans, dân-ca Mỹ, thơ Neruda, snow flurries, các thứ hoa như sage flower, chưa kể McDonald và Hemingway và Kilimanjaro, beignet bột trong Café du Monde, rồi các thành phố như Praha, Tiệp-khắc, Cherbourg, San Juan Capistrano với đàn én bay về hàng năm v.v. và v.v. Thơ của Nguyễn Xuân Thiệp còn nói đến họa (“Crows over the wheatfield”) mà cũng không tránh các đề-tài chính-trị như cách mạng hoa lài ở Trung-Đông và Bắc-Phi, người đàn bà láng giềng Afghanistan. Thơ của anh như vậy là thơ thời-đại… Và anh Bích đặc biệt thích bài nói về “butterfly effect,” hiệu-ứng cánh bướm:

có bao giờ em nghe
gió
nói về
hiệu ứng cánh bướm
butterfly effect
này nhé
cái vỗ cánh của một con bướm ở brazil
có thể gây ra cơn lốc xoáy
tornado. tận vùng đồng cỏ texas
anh cũng muốn thơ anh. như cánh bướm kia. tạo ra những chấn động. rền
trên những phế tích. ngày qua

Rồi anh Bích nhấn mạnh, “thơ Nguyễn Xuân Thiệp nằm ở trong một liên-văn-bản trong đó người ta thấy một văn-hóa liên-quốc-gia, liên-lục-địa rất hiện-đại tuy vẫn viết trong tiếng Việt.”

Phải nói Nguyễn rất tâm đắc với những nhận định của anh Nguyễn Ngọc Bích về thơ mình. Nguyễn định xin anh bài viết để giữ làm tài liệu. Nhưng hỡi ơi, nay anh đã ra đi. Xin mượn lời bạn anh là Từ Thức ở Pháp để chia tay: “Adieu, anh Bích. Chào anh vĩnh biệt. Hay đúng ra Sayonara, chỉ là một lời tạm biệt. Tạm biệt, bởi vì nơi anh đến, sớm muộn gì anh em cũng gặp lại. Ở đó, chắc anh đã gặp lại những người bạn đồng hành đã cùng anh vác ngà voi, những Nguyễn Tự Cường, Ngô Vương Toại, Nguyễn Minh Diễm, Nguyễn Xuân Phước… những người bạn tốt, những công dân mà nước Việt có thể hãnh diện, đã ra đi trước anh. Tạm biệt, bởi vì anh vẫn sống mãi trong lòng những người ở lại. Không ai quên mái tóc bạc, nụ cười thường trực, những cái vỗ vai thân thiện, tiếng hát và giọng ngâm thơ sang sảng của anh, những buổi tranh luận sôi nổi nhưng thân thiện, những cuộc trao đổi với anh sau đó người ta thấy mình thông minh hơn. Sayonara, anh Bích.”

Phải rồi… Sayonara anh Bích.

TN – 15 tháng 3. 2016

 

SHARE

NO COMMENTS

LEAVE A REPLY