“Hồn ở đâu bây giờ” ?

Thưa một đất nước không bình yên, biến loạn về thời cuộc, thì bà con mình đành đứt ruột rời bỏ quê hương mà đi, dù trong lòng đâu ai muốn?!

Tha hương, người Việt mình gặp nhau, sau khi làm quen, chào hỏi, thường là: tên tuổi, để tiện xưng hô: anh Ba, chú Bảy…

“Dà quê anh ở đâu? “À quê tui ở Quận Nhứt, Sài Gòn! He he!” Vậy mới ‘le’ chớ!?

Còn quê tui không có ở Quận Nhứt, Sài Gòn. Tía Má tui đâu có quyền thế hay giàu có gì mà ở Quận Nhứt cho được. Ðường Nguyễn Huệ, đường Lê Lợi… là mấy chỗ dành cho giai cấp thượng lưu hồi xưa, như khu Toorak ở thành phố Melbourne nầy vậy. Nhìn cái post code, khu bưu chính, là mình ngán nó rồi, nhà vài triệu đô lấy lên không hà… Lạng quạng nó lấy tiền chọi mình lỗ đầu là cái chắc!

Thưa tui xa quê đã lâu, chưa về, dù đêm nào mơ cũng mớ. Giờ thì chắc biển đã xanh dâu, còn quê chỉ là bóng hình mình, chìm trong cơn mộng dữ mà thôi!

Anh bạn nhà thơ nịnh ‘đầm’ dở như vầy: Anh không về, vậy mà hay! Thà giữ hình bóng quê nhà đẹp như thời năm cũ; hơn là về rồi, lại chịu cảnh bẽ bàng như nhà thơ Hạ Tri Chương, đời Ðường, bên Tàu.

“Thiếu tiểu ly gia, lão đại hồi/ Hương âm vô cải, mấn mao tồi/ Nhi đồng tương kiến, bất tương thức/ Tiếu vấn, khách tòng hà xứ lai?”

(Bé đi, già mới về nhà/ Tiếng quê vẫn thế, tóc đà rụng thưa/ Trẻ con trông thấy hững hờ,/ Cười ồ, hỏi khách lại từ phương nao?)

Quê tui ở Xoài Hột (mà Xoài nào không có hột chớ?) Ở Chợ Bưng, (chợ nào mà không bưng chớ?!) Dẫu vậy, nó là một vùng quê yêu dấu, là cuống rún chưa lìa của tui đó bà con ơi!

Nhắc tới quê, là tui nhớ tới Má, nhớ Má dẫn thằng nhỏ đi ăn cơm chùa vào ngày rằm Tháng Bảy. Mùa Vu Lan, cúng cô hồn các đảng và giựt giàn của bố thí. Hồi hộp và ‘phấn khích’ ghê… Hổng biết chú tiểu, đầu chừa ba vá miếng vùa, ngồi vắt vẻo trên cao, sẽ ném xuống cái gì cho mình giựt, dù lần nào cũng vậy, bị mấy đứa lớn con hơn nó đạp đau thấy Tía. Ðau mà vui!

Rồi lớn lên, nghe cái gì Chùa, như ăn ‘chùa’, nhậu ‘chùa’, nghĩa là hổng tốn tiền là tui khoái chí tử. (Coi vậy chớ đỡ tốn lắm nha!)

Thưadân mình xưa cũng vậy, phiêu bạt thương hồ, lỡ độ đường sông, đồng không mông quạnh, bụng đói cồn cào mà nghe tiếng chuông chùa bong bong vang trên mênh mông mùa nước nổi là mừng ra mặt; vội chèo ghe bươn tới vì chí ít cũng biết rằng nhà chùa sẽ cho ăn một bữa, dù cháo rau, dưa muối và cho một chỗ nghỉ chân an toàn đêm nay cho khách lỡ độ đường.

Thưa cái làng, nhứt là miệt Lục Tỉnh Nam Kỳ của mình, không có lũy tre xanh, không có cây đa cao ngất từng xanh… Mà là xóm nhà rời rạc, cách xa nhau một số đám ruộng. Bởi vậy chùa ở Miền Nam không còn là của riêng một làng nào nữa mà thường trên một gò cao nào đó để cả vùng gồm nhiều làng thờ chung ông Phật. Thường là do một sư ông vân du đến đây, thấy phong cảnh hữu tình, lập am tu hành. Mới đầu là am thôi, sau lâu ngày chày tháng mới phát triển thành chùa.

Tu rồi làm sao sống? Thì làm ruộng! Ruộng chùa cũng ít ỏi, do các tăng, ni tự khai khẩn rồi canh tác, tự cung tự cấp. Nhưng qua hàng trăm năm theo bước chân của lưu dân từ miền Trung vào, có ngôi chùa nhỏ, dần dần trở thành danh lam, thắng tích như chùa Sắc Tứ Linh Thứu ở Xoài Hột, Mỹ Tho, quê tui vậy đó!

Chùa quê, nhưng với tấm lòng từ bi, bác ái của Sư cụ trụ trì giúp người trong cảnh khốn cùng bị truy đuổi ráo riết, đã góp phần làm thay đổi lịch sử nước ta sau nầy:

Tích rằng: Nguyễn Ánh và quân Xiêm bị Nguyễn Huệ đánh một trận tơi bời, bị đại bại tại đoạn Sông Tiền từ Rạch Gầm đến Rạch Xoài Mút (1785), ông đã bỏ thuyền lên bờ, chạy vào Chùa Long Tuyền, trốn trong chiếc chuông đồng (Ðại Hồng Chung), thoát được cuộc truy nã ráo riết của quân Tây Sơn. (Số chánh vì vương mà! Lận đận long đong, xong rồi cũng là ‘vương’ nha?!)

Năm 1802, sau khi đánh bại được nhà Tây Sơn, Nguyễn Ánh lên ngôi vua lấy hiệu là Gia Long. Năm 1811, nhớ lại ngôi chùa đã từng cứu mạng mình nên vua Gia Long ra sắc chỉ đặt lại tên chùa là Long Nguyên Tự.

Ðến năm 1841, Vua Thiệu Trị cho đổi tên chùa thành Linh Thứu Tự, (chữ Linh Thứu nói trên, tiếng phạn là Kỳ Xà Quật, tên của một hòn núi mà Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni thường thuyết pháp khi xưa).

Còn dân gian gọi là chùa Sắc Tứ; hãnh diện là chùa quê nhưng lại được bảng vàng của nhà vua phong cho mà quên đi bài học chánh của giai thoại nầy: Phàm là bậc chân tu, phải có lòng từ bi, bác ái sẵn sàng ra tay cứu vớt bất cứ kỳ ai trong cơn cùng khốn!

Thưa bà con mình, mất quê, mất nước, mất cả bầu trời. Phiêu bạt chỉ mang theo trong lòng những hình bóng cũ, những hồn ma cũ, mất rồi thì cách chi mà tìm lại được.

Hình ảnh ngôi chùa, chú tiểu đầu ba vá miếng vùa, những ni cô lòng quảng đại, từ bi dù phải chịu hàm oan như Quan Âm Thị Kính, theo ta suốt một thời luân lạc.

Còn đối với các nhà thơ, nhắc tới chùa, là nhắc tới tiếng chuông, nhắc tới một kỷ niệm buồn đau; dẫu vậy, cũng rất đẹp của thời niên thiếu,

Nhà thơ Xuân Tâm: “Năm xưa tôi còn nhỏ/ Mẹ tôi đã qua đời!/ Lần đầu tiên tôi hiểu/Thân phận trẻ mồ côi. Quanh tôi ai cũng khóc/ Im lặng tôi sầu thôi/ Ðể dòng nước mắt chảy/ Là bớt khổ đi rồi… Hoàng hôn phủ trên mộ/ Chuông chùa nhẹ rơi rơi/ Tôi thấy tôi mất mẹ/ Mất cả một bầu trời”.

Nhưng than ôi, ngoái nhìn về quê cũ thì thấy thiệt đau lòng.

Hổng đau lòng sao được khi các ni cô của Chùa Phước Hải, huyện Bình Chánh, Sài Gòn, cởi bỏ áo nâu sồng, mặc đồ bộ đội và cầm súng AK, lên sân khấu nhảy cà tưng, nhảy vòng vòng, nhảy tới, nhảy lui… Thiệt là hổng có giống ai hết ráo!

Bà con trong nước cũng ‘rầu’ như tui vậy, nói: “Ðạo Phật mong cầu thoát khỏi thất tình lục dục. Thi thố ăn thua, đàn ca hát xướng, cởi áo nâu sồng khoác áo lính. Các vị có thuộc ngũ giới mà Phật đã dạy cho ni chúng không?”

Vậy mà còn xúm lại vỗ tay khen: “Mô hình nầy hay; cần nhân rộng?!” Trời, Phật ơi!

Tưởng bà con Phật tử đau lòng mà sửa lưng như vậy là quý ni cô chùa Phước Hải nầy ăn năn hối cải, lo tu học để giúp đời, giúp lòng dân đang loạn, bởi đời giờ hổng biết phải tin ai?

Nào ngờ, sư cô Thích Nữ Huệ Ngọc trụ trì chùa và đại sư Pháp Quang (ở nước ngoài) thỉnh thoảng mới về Việt Nam (phải có đại sư ‘Việt kiều’ là mới đáng tin nhe?!) làm lễ quy y cho một con Bò. Ðặt pháp danh là Thiện Sanh, rồi cho đeo một chiếc máy phát tiếng kinh Phật quanh cổ ‘nhà tu hành’ đặc biệt này.

Ðến nỗi vị Viện phó Học viện Phật giáo rầy: “Con bò không thể quy y cho được” Vì người Việt Nam thường dùng hình ảnh con bò để chỉ những người “có đầu mà không có óc”, không phát triển ý thức, không phát triển trí tuệ thì quy y là quy y làm sao?

Buồn ghê khi đọc mấy cái tin trời ơi đất hỡi nầy nhưng tui không ngạc nhiên chút nào. Hổng phải vô tình, mà họ có chủ đích đó bà con ơi.

Cách đây hơn 60 năm, nhà thơ CS Cù Huy Cận đã báng bổ Phật Giáo như thế nầy rồi qua bài thơ: “Các vị La Hán chùa Tây Phương /Tôi đến thăm về lòng vấn vương/ Há chẳng phải đây là xứ Phật, Mà sao ai nấy mặt đau thương?”

Chủ nghĩa xã hội của ông Cù Huy Cận nầy chưa về nên ai cũng khổ, cũng đau thương hết ráo. Cho tới khi nó về thì… vui? (Phải vậy hông?)

“…Các vị La Hán chùa Tây Phương/ Hôm nay xã hội đã lên đường /Tôi nhìn mặt tượng dường tươi lại/ Xua bóng hoàng hôn, tản khói sương!”

Ðể một nhà phê bình văn học phải kêu lên: “Cuộc sống rất đa dạng, không có gì là toàn ác, cũng không có gì là toàn thiện, những pho tượng La Hán nầy không phải trò đùa để cho Huy Cận đem ra bàn luận linh tinh…”

Thưatui đã từng được nghe các vị cao tăng giảng về Tam quy và Ngũ giới.

Tam quy: Ðiều thứ nhất: Phải noi theo Phật tính! Ðiều thứ nhì: Giữ gìn khuôn phép. Ðiều thứ ba: Phải theo bạn, theo thầy.

Còn Ngũ giới là: Năm điều ngăn cấm do Ðức Phật, vì thương xót chúng sanh, mà tạo ra, cốt khiến đời sống họ được an lành hạnh phúc.

1. Không sát sanh. 2. Không trộm cướp: 3. Không tà dâm. 4. Không nói dối. 5. Không uống rượu.

Mà nhìn quanh quất thì một số (tui không dám quơ đũa cả nắm) nhà sư quốc doanh (cà chớn) trong nước đều phạm giới hết ráo. Mà cái tội lớn nhứt, to nhứt là cái tội nói dóc, tức vọng ngữ.

Ða phần người Việt mình, theo Phật giáo, thấy đất nước mình đang trải qua cái mùa Pháp nạn nầy, thiệt là lòng đau như cắt. Nhưng chắc bà con mình, hy vọng ngày nào đó, không xa, tiếng chuông chùa rơi rơi lại trở về ngân nga, vang vọng trong tâm cảm người con Phật.

Chớ bây giờ thiệt: Nhớ lại những ngôi chùa quê, thời thơ dại từng theo Má đến thăm mà tiếc hoài… Nên không khỏi chép miệng, than thầm:

“Những người muôn năm cũ! Hồn ở đâu bây giờ?”

Hon O Dau Bay Gio

Bảo Huân

DXT – melbourne

 

------------------------------------------

Những bài trên báo Trẻ phát hành Thứ Tư ngày 18 tháng 1 năm 2017

(xin lấy báo tại các thân chủ đăng trên báo Trẻ)

  • Robot đá banh (Thể Thao) - Trần Trí Dũng
  • Tin thể thao (Thể Thao)
  • Quê ngoại (Truyện Ngắn) - Trà Đóa
  • Obama bài học nhân bản (Sổ tay phóng viên) - Đinh Yên Thảo
  • Thế giới organics! (Duyên Sài Gòn) - Du Uyên
  • Tình chàng ý thiếp (Đời Sống) - Ngân Bình
  • Hoa Kỳ - Trung Quốc và tình hình Biển Đông (Ghi Nhận Trong Tuần) - Vũ Hiến
  • Tháng giêng năm 2017 (Để Gió Cuốn Đi) - Hải Vân
  • Những điều ghi nhớ khi lái xe (Giao Tiếp) - Minh Hải
  • Vài ý kiến nhỏ về việc thông qua Đạo luật Magnitsky (Tạp Ghi) - Huỳnh Thục Vy
  • Ngày cuối năm (Thơ) - Mai Hữu Phước
  • Đêm, nghe quạ kêu (Bên tách cà phê) - Tim Nguyễn
  • Phòng Cấp Cứu (Chuyện Trò Thấy Thuốc) - Nguyễn Ý Đức
  • Dấu hiệu giao thông (An Toàn Giao Thông)
  • Thời cấm rượu (Tùy Bút) - Sean Bảo
  • Người trẻ, Người không còn trẻ, người già và người "sồn sồn" (Thế Giới Của Dế Mèn) - Trần Lý Lê
  • Thơ Đoàn Minh Châu (Thơ) - Thận Nhiên
  • "Học tiếng Việt qua bài hát" (Chát Đi!) - Thanh Thư
  • Đơn sơ như cá chưng tương hột (Tạp Ghi) - Tạ Phong Tần
  • Tôi lo ngại phải rời khỏi Hoa Kỳ! (Di Trú) - Lê Minh Hải
  • Sơn Đông mãi võ (Tạp Ghi) - Trang Nguyên
  • Làm sạch chảo chống dính (Bạn Có Biết)
  • Vài chuyện vui về Tổng Thống Mỹ (Bạn Có Biết) - Mai Hoàng
  • Những mẩu chuyện cảm động ngày cuối năm (Những Bông Hoa Cuộc Sống) - Như Sao
  • Biến cố, tai họa và thảm kịch năm 2016? (Bạn Có Biết) - Mai Hoàng
  • Mang quà biếu xén sếp lớn (Facebook Có Gì Ngộ) - Daniel Văn
  • Giải pháp cho stress (Trang Phụ Nữ) - Sông Hương
  • Trò chuyện với chính quyền (Góc Hoàng Hoa) - Ls. Anh Thư
  • Tuổi thọ các bộ phận trên xe hơi (Chiếc Xe Của Bạn) - Trịnh Kiều Phong
  • Đầm len mùa Đông! (Thời Trang) - Điệu Cô Nương
  • Tháng Chạp của người không Tết (Phóng Sự) - Hỷ Long
  • Màn cửa tự cuốn (Sản Phẩm Mới) - Bảo Sơn
  • Để trở thành người hạnh phúc trong năm mới (Bạn Có Biết) - Quỳnh Như
  • Người Việt ở New York mưu sinh (Thế Giới Quanh Ta) - Dương Hùng
  • 10 dữ kiện về rượu (Kiến Thức Phổ Thông) - Phượng Nghi
  • iPhones lén gởi ghi nhận các cú điện thoại của khách hàng về Apple (Ứng Dụng Thường Ngày) - P324530
  • Trang trí ngày Xuân (Cái Nhà Của Ta) - Thiên Hương
  • Manchester by the sea (Thế Giới Điện Ảnh) - Hải Sơn
  • Tình đầu (Truyện Ngắn) - Phạm Hải Anh
  • Thân cò bến lạ (Thơ) - Đức Phổ
  • Rộn ràng mùa thơm (Phóng Sự) - Uyển Ca
  • CES 2017 có gì mới? (Góc Nhiếp Ảnh) - Andy Nguyễn
  • Cuối năm mẹ đi đâu (Tạp Ghi) - Trần Mộng Tú
  • Quà sinh nhật (Tài Liệu Văn Học) - Nguyễn & Bạn Hữu
  • Em tên: Trần thị Mồng Tơi! (Phiếm) - Đoàn Xuân Thu
  • Gã ăn mày thi sĩ (Tạp Ghi) - Nguyễn Quang Lập
  • Bốn bài thơ của Dương Ánh Dương (Thơ)
  • Cọp giấy & rồng lộn (Sổ Tay Thường Dân) - Tưởng Năng Tiến
  • Đồng chí Vi Quốc Thanh trong viện trợ Việt Nam đấu tranh chống Pháp (Trong Hầm Rượu) - Trần Vũ
  • 2016 năm của những chàng trai ủy mị (Âm Nhạc) - Nhã Vy
  • Bàn tay bạn có sạch? (Y Tế Và Đời Sống) - Triệu Minh
  • Về Little Saigon ăn Tết (Chuyện Đời Thường) - Huy Phương
  • Qua suối đến trường (Tạp Ghi) - Trần Mộng Tú
  • Tướng cướp hào hoa (Chuyện Vụ Án ) - Nam Nhật
  • Tin thể thao (Thể Thao)
  • Thế giới qua ống kính (Thế Giới)
  • Mỗi tuần 1 con số (Thế Giới)
  • Đáp trả xã hội (Chuyện Khó Tin Nhưng Có Thật)
  • Ăn mừng ... ly dị (Vui Lạ Khắp Nơi)
  • Thông báo (Câu Lạc Bộ Tiếu Lâm)
Facebook Comments
SHARE