“Home Alone” với Dallas Symphony Orchestra

Hàng năm đến mùa Noel trên TV lại thấy có chiếu phim “Home Alone” (1990), về một cậu bé 8 tuổi một mình đối phó với hai tên trộm. Có điều ít ai biết là bây giờ ta vẫn có thể xem được phim này trên màn ảnh lớn, với nhạc sống do các dàn nhạc giao hưởng đảm nhiệm.

home-alone5
“Home Alone” với Detroit Symphony Orchestra. ảnh: Sarah Rahal

Vào mùa Giáng-Sinh 2017, Dallas Symphony Orchestra (DSO) với sự cộng tác của ca đoàn Children’s Chorus of Collin County (CCCC) đã cho trình chiếu phim “Home Alone” trong hai đêm liền tại nhà hát lớn của thành phố – Meyerson Symphony Center (gọi tắt là The Meyerson). Dưới sự điều khiển của nhạc trưởng Jayce Ogren, phần nhạc đệm lồng phim đã được thể hiện vô cùng khéo léo và sôi động. Có thể nói, muốn coi “Home Alone” thì không thể nào mãn nhãn và mãn nhĩ hơn xem kiểu này.

home-alone3
Sảnh đường của Meyerson Symphony Center. ảnh: ianbui

The Meyerson là một nhà hát hàng đầu tại Hoa Kỳ, xét về mặt âm thanh trung thực thì chỉ thua có Carnegie Hall ở New York. Cho nên khi Meyerson được dùng để chiếu phim cùng với nhạc sống, người xem có được những trải nghiệm độc đáo không thể nào tìm thấy trong một rạp xi-nê bình thường, thậm chí cho dù là các rạp với dàn âm thanh nổi mấy chục ngàn watt. Bởi vì sao? Vì một dàn nhạc giao hưởng như DSO có tới hơn 90 nhạc công chơi đủ thứ nhạc cụ. Chỉ riêng các dụng cụ gõ như trống, timpani, xylophone, chuông, lục lạc v.v… là đã gần 10 người. Chưa kể ba người đánh keyboard/piano, cộng với dàn kèn đủ loại – trumpet, horn, oboe, clarinet, tuba… Còn bộ phận đàn dây gồm vĩ cầm, trung vĩ cầm, đại vĩ cầm thì có trên 50 người. Với một lực lượng nhạc sĩ hùng hậu như vậy, họ có thể tạo nên những âm thanh cực nhỏ cũng như những âm thanh cực lớn, làm cho cuốn phim càng sống động và lôi cuốn.

Khi phim “Home Alone” ra đời năm 1990, phần nhạc nền do John Williams biên soạn đã được đề cử hai giải Oscar; một giải cho nhạc đệm hay nhất và một giải cho ca khúc hay nhất – bài “Somewhere in My Memory”. Tuy cả hai đều không đoạt Oscar, nhưng từ đó đến nay nhạc phim này đã rất phổ biến trong mùa Noel và được vô số dàn nhạc giao hưởng – từ chuyên nghiệp đến học sinh/sinh viên, chơi đi chơi lại. Trước đó mười mấy năm John Williams đã khá thành công với nhạc nền cho các bộ phim “Jaws”, “Star Wars”, “Indiana Jones”, “E.T.” … cho nên việc ông được đề cử giải Oscar và Grammy cho “Home Alone” cũng không có gì là lạ. Kể từ năm 1980, sau khi Arthur Fiedler qua đời, John Williams còn là nhạc trưởng của dàn nhạc Boston Pops Symphony nên ông được xem như “người hùng” của Boston. Chính ông đã từng điều khiển Boston Pops chơi nhạc sống cho phim “Star Wars”, “Home Alone”, “Harry Potter” nhiều lần ở Boston.

home-alone4
Sảnh đường của Meyerson Symphony Center. ảnh: ianbui

Nhưng nhờ đâu phim “Home Alone”, và nhạc đệm của nó, lại được yêu chuộng đến như vậy? Ðể trả lời câu hỏi này, ta phải lội ngược thời gian trở về cuối thập niên 1980. Khi ấy đạo diễn Chris Columbus đã quen chú bé Macaulay Culkin từ trước và muốn Culkin đóng vai cậu bé Kevin McAllister trong phim. Thậm chí, kịch tác gia John Hughes đã dựa vào Macaulay Culkin để dựng nên nhân vật Kevin, mặc dù trước đó ông đã tuyển lựa từ cả trăm đứa trẻ nhưng không em nào lọt vào mắt xanh của nhà sản xuất này. Cuối cùng thì Macaulay Culkin đã thể hiện xuất sắc vai cậu bé Kevin và biến “Home Alone” thành một hiện tượng điện ảnh hiếm có.

Toàn bộ cuốn phim được quay tại thành phố Chicago, kể cả những cảnh trong phi trường Orly (Paris) mà thật ra là quay trong phi trường O’Hare (Chicago). Căn nhà của gia đình McAllisters trong phim cũng là một căn nhà có thật ở ngoại ô thành phố. Một số cảnh trong phim đã được quay ngay trong căn nhà này. Về sau căn nhà đã trở thành địa điểm du lịch và cuối cùng chủ nhân đã bán nó với giá $1.5 triệu.

home-alone2
“O Holy Night”, DSO và ca đoàn. ảnh: ianbui

Mặc dù ngân sách làm phim chỉ có $17 triệu, nội trong tuần lễ đầu doanh thu nội địa đã huề vốn và cuốn phim đã đứng đầu bảng 12 tuần lễ liên tục, không cho phép phim nào khác leo lên vị trí số một. Từ đó trong giới làm phim ở Hollywood cụm chữ “Home Alone” đã biến thành một động từ – phim nào bị “home aloned” có nghĩa là phim đó dù hay cách mấy vẫn không ngóc đầu lên nổi vì thiên hạ vẫn mua vé đi coi “Home Alone” ào ào. Sở dĩ có câu nói đó là vì sau 12 tuần lễ đứng hạng nhất, “Home Alone” tiếp tục nằm trong Top 10 hơn nửa năm, cho tới tháng Sáu năm 1991 mới từ từ leo xuống. Tổng cộng trong thời gian đó phim đã bán được trên 60 triệu vé, với tổng số doanh thu hơn $250 triệu Mỹ kim. Cho tới ngày hôm nay, “Home Alone” vẫn đang giữ kỷ lục là phim hài hước với doanh thu cao nhất nước Mỹ, hơn $450 triệu đô la – coi như lời mấy ngàn phần trăm so với vốn bỏ ra! Thảo nào sau đó hãng 20th Century Fox đã cho ra thêm vài quyển phim “Home Alone” nữa, tuy không thành công bằng phim thứ nhất nhưng cũng không đến nỗi tệ.

Về mặt âm nhạc, nhạc phim tiếp theo là “Home Alone 2” (1992) cũng do John Williams biên soạn, với ca khúc “Merry Christmas” khá ăn khách. Trong buổi chiếu phim “Home Alone” tại Meyerson, DSO và ca đoàn CCCC đã chơi bài “Merry Christmas” để kết thúc chương trình sau khi hát bài “Somewhere in My Memory” trong phần credit cuối phim. Khán trường đêm ấy gần như không còn ghế trống, và khán giả đã tung ra những tràng vỗ tay ầm ĩ.

home-alone1
Children’s Chorus of Collin County, dưới sự điều khiển của bà Janie Oliver. ảnh: DC

Mặc dù người viết đã coi phim “Home Alone” rất nhiều lần, nhưng khi được nghe nhạc sống với cả một dàn đồng ca hỗ trợ, bỗng nhiên ta phải để ý kỹ hơn phần nhạc đệm trong phim. Có nhiều đoạn ban nhạc chỉ chơi vài nốt ngắn ngủi, như chỉ thêm tí màu sắc chấm phá. Nhưng cũng có những đoạn ban nhạc trở thành phần chủ lực của phim – chẳng hạn như lúc cả gia đình McAllister nhốn nháo sửa soạn quần áo vali đi ra sân bay gấp vì trễ giờ, hay lúc họ chạy hộc tốc trong phi trường Orly để tìm chuyến bay từ Paris trở về Chicago sau khi phát hiện cậu bé Kevin đã bị bỏ lại ở nhà một mình.

Hoặc trong những pha hồi hộp gay cấn, khi hai tên trộm Harry (Joe Pesci) và Marv (Daniel Stern) đang tìm cách tấn công vào nhà của Kevin. Thật thích thú khi được mục kích người nhạc trưởng uốn nắn tiếng nhạc mạnh nhẹ, nhanh chậm tùy theo diễn biến trên màn ảnh. Trên giá nhạc của ông ta, ngoài quyển nhạc dầy cộm còn có một chiếc iPad Pro thật to. Ông ta luôn nhìn vào đó để biết phim đang chiếu tới đâu, những con số nhảy liên tục trên đó báo cho ông ta biết sắp đến đoạn nhạc nào, tốc độ nhanh chậm ra sao v.v… Thật là diệu kỳ!

Nhưng đáng nhớ nhất phải nói là khúc phim trong Thánh đường, khi cậu bé Kevin ghé vào nhà thờ và bắt gặp một ca đoàn đang hát bài Thánh ca “O Holy Night” và “Star of Bethlehem”. Trong cảnh này, người nhạc trưởng trong phim và người nhạc trưởng trên sân khấu phải vô cùng ăn khớp. Các em trong ca đoàn CCCC cũng phải hát thật đúng nhịp với ca đoàn trên màn ảnh, vì khi camera quay cận cảnh ta có thể thấy rõ môi miệng của ca sinh trong phim mấp máy. Chỉ cần hát trật nhịp một chút thôi cũng sẽ rất là lộ liễu. Nhưng nhờ đã được tập dượt kỹ lưỡng với DSO trong hai ngày liền nên các em đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ cực kỳ tinh tế này. Bravo!

home-alone
Một ca sinh người Việt trước giờ trình diễn. ảnh: ianbui

Ðối với đại đa số người Việt, nhạc giao hưởng vẫn còn là một món ăn tinh thần khá xa lạ. Người nghe đã ít, người đi xem còn ít hơn. Phần vì không được làm quen với nó từ nhỏ, phần vì ta hay nghĩ nhạc giao hưởng chỉ dành cho giới “hàn lâm”. Nhưng thật ra nếu chịu khó để ý ta sẽ nhận ra nhạc giao hưởng có mặt khắp nơi. Hầu như tất cả phim ảnh thời nay đều có phần nhạc đệm là nhạc giao hưởng, kể cả những phim hành động bom tấn, đánh đấm đùng đùng. Ngoài ra, giới trẻ ngày nay cũng được nghe nhạc giao hưởng khá nhiều qua những trò chơi video game. Nhiều bản nhạc game giờ đây rất được giới thanh thiếu niên ưa chuộng. Và để lôi kéo lớp khán giả trẻ ấy, các dàn nhạc giao hưởng như Dallas hay Fort Worth Symphony Orchestra thỉnh thoảng lại có những chương trình chuyên về nhạc video game, và vé bán dĩ nhiên rất chạy. Các bậc phụ huynh nên cho con mình đi xem những chương trình như vậy.

Ði xem “Home Alone” với Dallas Symphony Orchestra và ca đoàn CCCC, ta chợt thấy có rất nhiều gia đình Tàu, Ấn Ðộ và Ðại Hàn dẫn con đi coi. Còn người Việt thì chẳng thấy mấy ai. Ðiều này cũng hơi buồn, vì nó cho thấy người Việt vẫn chưa bắt kịp những cộng đồng Á Châu khác về mặt văn hóa mainstream, tức luồng chính, của Mỹ. Nhưng dù sao đi nữa cũng mừng là đã có vài em người Việt trong ca đoàn CCCC. Hy vọng trong tương lai số phụ huynh dẫn con em đi xem (hoặc tham gia) các sinh hoạt văn hóa như vầy ngày sẽ càng đông hơn. Và biết đâu một ngày nào đó chúng ta sẽ có một vị nhạc trưởng gốc Việt điều khiển một dàn nhạc giao hưởng tầm quốc gia hay quốc tế! Ta có quyền mơ chứ sao không?

IB

SHARE

NO COMMENTS

LEAVE A REPLY