Hiệp hội Tương tế Bắc Việt Nghĩa trang (Ký) – Kỳ 2

Tôi mang gương mặt của đứa trẻ trong hình 15 năm sau trở về. K vươn cánh tay lên múa máy. Ðôi tay anh khẳng khiu như cánh tay vũ công ballet chấp chới, cố nắm níu sự sống thay cho đôi chân đã bất động. K đang hóa quỷ. Tôi sợ hãi đếm một, hai, ba, mong cho hành lang không chấm dứt. Tôi đếm một, hai, ba, sợ hãi hành lang hun hút, muốn tất cả biến đi, đừng bao giờ hiện diện. Hơi nóng dồn lên ở cửa. Tấm kiếng mở ra hắt dội tiếng động vỡ bùng. Âm thanh hỗn loạn. Tiếng la hét. Chưa bao giờ tôi rơi vào chuỗi âm thanh hỗn độn đến vậy. Thứ âm thanh của những ngày cô nhi viện đứng trên nóc chuông nhà nguyện trông xuống cánh đồng mênh mông vàng cháy, im phắt, tựa một bức tranh tĩnh vật vô hồn, vô cảm, tôi đã thèm quay quắt nhớ rã rời tiếng súng AK trong đêm tối, tiếng M-16 bắn trả, và tiếng xích sắt của thiết vận xa M-113 quần nát mặt đường. Tôi mặc áo mới, buổi chiều mùng 2 Tết, ống tay là thẳng như tuổi thơ ngăn nắp. Tôi đứng trên sân thượng đếm tiền lì xì, phong bao đỏ phẩm, tôi trốn K, sợ K biết tôi nhiều tiền hơn. Tôi bất chợt trông thấy lính Mỹ ở building đối diện đặt súng đại liên bắn xối xả xuống lòng đường chỗ hiệu phở Bình góc Yên Ðỗ, nơi đặc công Bắc Việt xuất phát. Những đường đạn reo kinh dị. Súng nổ inh tai như pháo sáng mùng một hãy còn đỏ thắm trước cửa nhà. Tôi say mê tiếng súng như đã mê đốt pháo, cùng lúc sợ hãi, bưng lấy tai, Bà hét gọi chị Ni bế tôi xuống. Chị Ni chạy quýnh quáng. Tôi quắp lấy chị ở như vẫn hay quắp lấy chị những sáng tảo mộ trốn những gương mặt người chết. Thầy không cho vặn đèn, ngôi nhà bốn tầng tối om. Tôi vít lấy Bà, cố đoán trên gương mặt Thầy những âu lo từng chập theo tiếng súng an nguy râm ran, thấp thỏm rồi đứt quãng dưới chân cầu thang nơi cả nhà túm tụm đầy sợ hãi. Khi có tiếng trực thăng phần phật muốn thổi bay mái, gương mặt Thầy rạng rỡ, Phía mình thắng rồi, Thầy nói trong hơi thở. Tôi ngửng lên trông thấy hân hoan trong mắt Thầy. Tôi ngửng lên trông thấy chiến thắng trong phim Cao bồi. Tôi thiếp vào giấc ngủ khi Thủy Quân Lục Chiến dọn dẹp khu phố. Tôi thiếp vào giấc ngủ với ý nghĩ Phía Thầy thắng rồi, với giấc mơ trẻ thơ, tôi làm kỵ binh áo xanh bắn rụng từng tên mọi da đỏ dưới chân cầu Kiệu.

K bơi trong vũng nước đen. Cánh tay anh vốc lên rồi thả xuống, chậm rãi, đều đặn. Tôi bơi theo K trong giấc ngủ. Mặt nước loáng loáng trong suốt. Tôi trông rõ cả thân anh đang hóa quỷ. Da thịt đen sạm và tóc rụng trắng. Nước lùa những lọn tóc trắng trôi nhấp nhô, giữa đầm lạnh toát. Tôi gạt tóc, bơi trong nước đen sẫm. K bơi phía trước. Hai vách đá hai bên thẳng đứng, những mỏm đá nhọn hoắt, chúng tôi bơi ra cửa biển. Tất cả xám tuyệt vọng, tựa những fjord Phần Lan buổi tối băng giá. Nước lạnh buốt. Tôi cất tiếng gọi, nhưng anh vẫn bơi mải miết, về phía trước, hũng đen thăm thẳm cứ mỗi lúc một lớn dần trôi hút cả hai anh em về một phía. Tôi nhận ra cõi chết. Tôi muốn đuối, nước vỗ mang tai hắt dội tiếng đập của lồng ngực. Hai chân tôi tê cóng, tựa liệt, tôi cảm giác bị liệt, cảm giác rõ rệt sự chối từ của thân xác, nước tiếp tục chảy xiết đẩy K xa dần. Tôi mơ giấc mơ đó nhiều lần, giữa đêm, khi về sáng, trên cả chuyến bay trở về.

Cánh cổng mở ra. Nắng hực lên lưỡi kiếm cắt đứt đôi người mà tôi không kịp nhận biết. Nắng phừng lửa như lúc Thầy hắt rượu tống đạt vàng mã.

– Quê con ở đâu Thầy?

Tôi hỏi, say mê ánh lửa xanh phả phất mùi rượu đế. Lửa cuốn lên tro của mỗi mùa tựu trường tôi luôn ngạc nhiên nghe đám bạn kể chuyện về quê. Ðứa về Cần Thơ, đứa xuống Sóc Trăng, đứa đi Long Xuyên hay ra Ðà Nẵng. Ông tao có cặp trâu trắng hết sẩy. Bà tao nuôi ong lấy mật cho tao uống. Tất cả hương quê và ông bà dậy lên câu chuyện. Tôi không đi đâu chỉ biết Sàigòn, xa lắm xuống Ô Cấp một hai tuần tắm biển. Tôi không có quê hay đúng hơn quê tôi ở trong nghĩa trang.

– Quê nội con ở Vĩnh Phú, có sông Thao, quê ngoại con ở Sơn Tây.

Thầy trả lời chậm rãi. Thầy hay kể về những danh lam thắng cảnh miền Bắc mà tôi không bao giờ trông thấy, không bao giờ có thể thăm viếng, nhiều lắm chạm tay lên vách mả, mường tượng sau những chữ khắc, trong đôi mắt người chết, một chút thôn quê, những cánh đồng đất Bắc thổi lướt mưa phùn, những bãi rươi tháng 5 ở Hải Phòng, khu Tam Ðảo mù sương, mái chùa Hương chót vót hay mái chùa Thầy tịch liêu, quê tôi thật sự ở trong Bắc Việt Nghĩa Trang.

Nắng loá mắt. Tôi đẩy xe khó khăn. Mọi người chen lấn. Tôi nghe tiếng Bà gọi, thất thanh mà rất nhỏ, chìm lẫn trong hỗn độn của phi trường. Nhưng tôi nghe thấy, tiếng Bà tôi không sao quên, tôi nghe mỗi đêm, từng đêm của cô nhi viện một mình tôi trăn trở trong dortoir lạnh buốt hoang vắng.

– Vũ, Mẹ đây. Anh đâu?

Bà ngồi bẹp ở hàng rào sắt cố lùa cánh tay xương nắm níu. Cánh tay bà cũng khẳng khiu như cánh tay K, muốn nắm lấy tay tôi lần nữa. Bà ngồi bẹp giữa đám đông xô đẩy. Dáng Bà y dáng bà cụ bán nhang ngồi trước cổng Bắc Việt Nghĩa Trang. Hàng rào sắt ngăn cách như phiến kính vô hình suốt tuổi thơ đã ngăn trở tôi với Bà. Bà quắt queo, nhăn nheo y bà cụ nghĩa trang. Tôi gọi Mẹ. Cánh tay bà chới với. Phi trường Tân Sơn Nhất như một chợ cá. Bà nắm lấy tay tôi như K đã nắm lấy tay tôi lần chót.

– Vũ, Mẹ đây. Anh đâu?

Giọng Bà khản, hốt hoảng. Tôi không kịp suy nghĩ. Tôi không thể suy nghĩ. Nắng chói chang như nắng ở nghĩa trang. Hơi nóng, hơi người lấn đẩy. Tôi vẫn chưa ra khỏi hàng rào sắt. Tôi bực bỏ, tại sao tổ quốc không xây nổi một nhà đợi cho những bà mẹ Việt Nam đợi con đợi cháu, trong bóng râm, trên ghế nệm? Tại sao tổ quốc bắt Bà ngồi bẹp trên lề đường như ăn mày? Bà không ăn xin, Bà chỉ đợi tôi, mười lăm năm. Sân bay khinh người. Sân bay chỉ biết tính thuế phi trường.

– Vũ, Vũ, chị đây.

– Vũ, Vũ, cô đây.

Chị N khóc. Chị lếch thếch, quần áo xốc xếch, nhầu nát. Tôi nhìn chị ngỡ ngàng. Chị hoa khôi Thiên Phước, hoa khôi Les Lauriers, Marie Curie, nữ sinh trường Ðầm, bế bé Nhí, mặc chiếc áo đầm cũ nát tôi gởi về 10 năm trước. Cô Lìn xanh tái hơn ngày đưa tiễn Thầy.

– Chời ơi máy bay đến trễ đợi em quá chời, tưởng cháy rồi.

Anh T đỡ valise. Anh cao lớn đẹp trai trong trí nhớ, nam sinh Marie Curie, gia đình Bắc di cư lấy chị 15 năm bằng thời gian tôi vượt biên, bây giờ anh mặc áo công nhân lam lũ, nói giọng Nam, như một từ chối đất Bắc. Tôi không hiểu. Nắng chói loà. Nắng gay gắt như tuôn lửa. Bé Vinh khóc. Bố, con sợ. Bé Vinh níu tay tôi, như tôi đã nắm vít lấy Thầy buổi chiều Mậu Thân đặc công tấn công building Mỹ. Bà khóc. Anh đâu? Bà hỏi. Tôi muốn khóc. Tôi muốn nói anh đang hóa quỷ, nhưng tôi không thể nói, bãi xe như ong vỡ, tài lôi kéo, chụp giật, Việt kiều đi xe này bảo đảm, đời mới, xe cá mập có máy lạnh, đồng hồ cây số, anh tránh ra tôi có xe nhà, đừng nghe tụi nó anh thuê xe rồi, coi chừng mất cắp, đứng gần cô, cháu Vinh đâu? đứng gần mẹ, đếm đủ hành lý chưa, bao nhiêu va li? Tôi rời phi trường lúc nào tôi không rõ. Gia đình đẩy tôi lên xe. Tôi cố quay nhìn một lần nữa, chưa bao giờ tôi được vào Tân Sơn Nhất, giấc mơ của tuổi thơ. Tôi cố kiếm con đường nhỏ dẫn vào Bắc Việt nghĩa trang bên hông, chỉ trông thấy tấm bảng lớn Ga Ði Quốc Tế Tân Sơn Nhất. Tại sao tiếng Việt lầm than đến mức này? Tại sao không viết Phi Cảng Khởi Hành Quốc Tế Tân Sơn Nhất? Tất cả vỡ oàng hỗn loạn, tất cả chồng chất, quá khứ, thực tại, âm thanh của 15 năm trước trộn lẫn 15 năm sau, con người 15 năm trước sống sót biến hóa 15 năm sau. Bé Vinh im thin thít, lần đầu tiên trông thấy quê bố. Tôi gắng hỏi khi xe qua Bộ Tổng Tham Mưu.

– Ði đường Chi Lăng hở cô?

– Không đường Trường Sơn cháu.

– Sao không đi đường Trương Minh Giảng cho gần cô?

– Phía Lê Văn Sĩ kẹt xe lắm cháu.

Cô Lìn lấy chú Chúng sĩ quan hải quân hoa tiêu VNCH nhưng cô đã quên hết. Tôi nhớ tất cả, nhà thằng Ðỗ Hoàng Phượng răng khểnh trong lớp kêu Miêu Khả Tú bán bàn ghế ở Võ Di Nguy, xe chạy qua, tôi còn ngoái nhìn xem mẹ nó còn bắc ghế ngồi ngoài cửa hay không. Hiệu bún bò Tân Thanh đặc công núp ở đó bắn lên building Mỹ khiến ông Tân Thanh bị cảnh sát Dã Chiến còng đi tình nghi che giấu Việt Cộng. Tôi bước xuống xe cố tìm bà bán cóc ổi, me chua, tầm ruột, tôi ăn quà mỗi chiều cắn xoài ngâm đến ê răng, nhưng chỉ có cô gái nhỏ ngồi nhoẻn miệng cười.

– Bác có Việt kiều về thăm hả bác? Cô gái hỏi.

– Việt kiều gì, con tôi đấy. Bà trả lời.

– Chú Việt kiều biết ăn tầm ruột không?

Cô gái đon đả. Anh T đang khuân từng chiếc va li xuống. Bà chào tổ trưởng, hàng xóm đứng bu quanh. Tôi nhìn thúng trái cây, vẫn những quả me ngâm đường hóa học thuở trước vàng lẳng nổi bập bềnh trong thau nước, những rổtết đứt cọng, những lá chuối tươi lót cóc ổi và đàn ruồi xanh bay tỏa dưới nắng. Vạn vật không khác, từ lề đường xi-măng đứt khúc, cao thấp, trồi sụt, cả tấm che nắng sơn trắng của cảnh sát Cộng Hòa bây giờ xẩylở ở cột đèn. Chỉ có dì Sáu không còn ở đó. Dì trôi lạc phương nào tới tôi không biết. Tôi mở mắt chào đời dì đã ở đó, trước sạp cóc ổi. Những trưa nắng dì dúi cho tôi những củ ấu lúc đứng đợi ông xích lô chở đi học mẫu giáo. Những chiều tiểu học ở trường Lasan về, tôi nhảy ùm khỏi xe chú Lễ, dì cho tôi miếng xoài ngâm chấm ruốc cay chua mặn chát. Tôi khám phá trái cây miền Nam trên sạp dì Sáu. Không trái nào tôi không biết, từ trái xơ-ri ta bé tí, quả cà na nhọn, lát mãng cầu xiêm, trái bòn bon, đến quả sim tím ngắt lưỡi.

– Ngó chi dữ? Dì Sáu cười tươi, xoa đầu.

– Hổm rày học tới đâu?

– Onzième. Tôi trả lời hãnh diện.

– Cái gì? Lớp mấy?

– Onzième!

Tôi la. Thuở nhỏ tôi sớm khó chịu, tôi là hoàng tử, Bà bảo vậy.

– Ừ, ôn dèm. Ăn cóc không?

Tôi gật đầu. Dì cắm cho tôi quả cóc to nhất, xanh mướt, khía xoè như những cửa sổ của ngôi nhà tí hon có nắp. Không phải vì bán trước lề nhà Bà nên dì cho tôi ăn miễn phí. Tôi luôn thấy trong ánh mắt dì những trìu mến, mỗi khi dì vuốt má, nắn tay, xem tôi mập ốm.

– Ðừng nói Bà nghe nhe, Bà la chết.

Dì dặn. Tôi vừa cắn quả cóc vừa gật đầu. Bà mà khám phá tôi ăn quà vặt, sẽ la dì chết, và thế nào Bà cũng sai chị Ni ra trả tiền mấy quả me, quả cóc dì cho tôi. Con trai không ăn vặt, không ăn hàng ngoài đường. Bà luôn nghiêm khắc.

– Chú Việt kiều biết ăn tầm ruột không?

– Việt kiều gì, con tôi đấy. Bà trả lời.

– Con Lài con dì Sáu. Con ăn cóc không?

Bà hỏi. Tôi lắc đầu. Tôi không nhận ra nét nào của dì Sáu trên gương mặt cô gái, nhưng tôi nhận ra lề đường chỗ tôi đang đứng. Giống cuốn album cũ ai vất xuống mặt đất tung toé. Tôi nhận ra khúc xi-măng bể, còn phản chiếu nỗi bàng hoàng của buổi sáng Bà cho U Ðào về quê. U ở cho gia đình tôi lâu lắm, Thầy nói từ đời Ông, năm U mười bốn. Tôi đã chào đời trên cánh tay U ẵm bồng, đã ngủ trên cánh tay U thay cho Bà bận bịu buôn bán. Mỗi khi tôi thức giấc, chiếc quạt nan trên tay U phe phẩy gió. Mỗi khi tôi khóc U dỗ dành, tôi không sao có thể hình dung có ngày U sẽ biến đi, đột ngột, như một chiếc bóng. U giống một thành viên trong gia đình, dù im lặng, không tiếng nói. Tôi đi học, U mở cửa. Tôi về nhà, U đun nước tắm. Tôi ăn sáng, U mua xôi. Tôi đói khuya, U đi mua hủ tiếu. U tập cho tôi ăn sầu riêng dù Bà không ăn. U tập cho tôi ăn mì Quảng dù nhà chỉ ăn món Bắc. U già lắm, già hơn bà lão bán nhang trong nghĩa địa. U chăm cho chị N, đến K, rồi đến tôi. U không bao giờ nói chuyện, làm như cuộc đời U không có gì để kể. Ðôi bận, tôi hỏi quê U ở đâu? U không biết. Tôi hỏi U có chồng không? U cười.

– U lấy chồng ai trông cậu.

– Thế U không có nhà cửa cha mẹ chi hết?

Tôi thắc mắc. U lắc đầu.

– Vậy quê U cũng ở trong nghĩa trang à?

– Nói bậy. Cậu ngủ đi, thức mãi Bà thấy Bà la.

U quạt gió, lùa những ngón tay già nua vào trong áo gãi trên lưng tôi đang hâm hấp cơn sốt vỡ da có những hạt mụn li ti vừa nhú. Tôi thiu thiu giấc ngủ mộng mị về một vùng đất nào đó xa xôi mà U đã sống, đầy bí ẩn.

Về quê, trong tiếng Bắc, lúc nhỏ tôi đã sớm biết mang nghĩa cho nghỉ việc. Tôi đã trông thấy thằng Thành giúp việc, chị Hoa đầu bếp, chị Hương sổ sách, cả chú Lễ tài xế, chị Ni, Bà cho về quê. Về quê, có nghĩa biến mất vĩnh viễn, không bao giờ hiện ra trở lại. Sau 75, gia đình tôi sa sút, Thầy mất, cửa hiệu xuất nhập cảng xe gắn máy bị đánh tư sản, villa Thủ Ðức bị tịch biên, Bà lần lượt cho về quê tất cả, kể cả chị Huệ Bà tin cẩn, chỉ trừ mình U. Cho đến một buổi tối tôi nghe Bà nói với cô Cắm, nếu U chết trong nhà không có tiền ma chay. Cô Cắm nói thấy U còn mạnh. Bà lắc đầu trên 70 chết lúc nào không hay, U về quê đỡ một miệng ăn. Sáng hôm sau U tất tả bị gói ra xích lô máy đi ra bến xe nào đó đưa U về Quảng Ngãi. Chị em tôi khóc. Tôi giận Bà nhưng không dám hỏi, không dám nài nỉ, tôi biết nhà nghèo lắm, cảnh nhà thê thảm ở từng mỗi bữa ăn chỉ còn mì sợi và đậu đỏ. Buổi tối U còn gãi lưng tôi lần cuối, tôi khóc rấm rứt trên gối, U thức suốt đêm phơi quần áo cho K, ủi nốt mấy chiếc sơ mi cho K ngày mai đi thi, lau chùi bếp núc sạch sẽ, rửa hết nồi niêu soong chậu cho chị kể từ mai phải thay U vào bếp. Suốt tối tôi ngồi xem U xếp mấy bộ bà ba, vài chai lọ cho vào bao, dọn dẹp mọi thứ, U làm nhanh như con gái, như thể U chưa già, như thể U muốn trở ngược thời gian để Bà đừng cho U về quê. Trong giấc ngủ nửa mơ nửa tỉnh, tôi thấy hình như U muốn ôm tôi, hình như U muốn hôn lên trán tôi, những ngón tay U xoa lưng suốt đêm cho đến lúc có tiếng Bà hỏi sao U chưa ngủ, để cho cậu ngủ, mai cậu còn đi học, U còn đi sớm.

Buổi sáng U ra đứng chỗ tôi đang đứng, đợi xe. Mắt U đỏ hoe. U cố gắng không khóc, sợ tôi khóc. Tôi hỏi U đi đâu? U về quê. Sao U nói U không có quê? U có quê. U chùi nước mắt.

– Cậu ở lại học giỏi cho Bà vui.

– U nói dối! U không có quê. Quê U ở trong nghĩa trang!

Tôi khóc, níu áo không cho U đi. U cũng khóc.

– Cậu buông U ra kẻo Bà la.

Xe xích lô máy đến. Tôi nhớ Bà chỉ đủ tiền cho U bảy mươi đồng Giải Phóng. 70 đồng cho một đời ở đợ. Tôi cố gắng không khóc, con trai không được khóc, Bà luôn nói, nhưng nước mắt tôi đầm đìa, tôi níu chặt áo U, nhưng Bà đã hối U lên xe, U còn cố nắm tay tôi lần cuối, nhưng xích lô máy đã phóng đi giật kéo tay U giữa bụi khói. Tôi giận dỗi Bà mấy tháng liền trong im lặng. Tôi giận dỗi Bà tiêu tán tuổi thơ, bắt tôi khám phá xã hội tàn nhẫn của người lớn. Tôi giận dỗi đất nước đã không cho phép gia đình tôi nuôi một con người. Tôi không biết nếu Ông còn sống Ông có cho U về quê? Tôi không biết Thầy còn sống, Thầy có cho U về quê? Tôi biết Bà đã cho U về quê chỉ vì muốn dành miếng ăn cho chúng tôi, nhưng tôi vẫn giận dỗi Bà đã bắt tôi chứng kiến cảnh U đi vào cõi chết.

TV

(còn tiếp 4 kỳ)

 

------------------------------------------

Những bài trên báo Trẻ phát hành Thứ Tư ngày 07 tháng 12 năm 2016

(xin lấy báo tại các thân chủ đăng trên báo Trẻ)

  • - Từ giải trí đến chính trường (Thể thao) Trần Trí Dũng
  • - Tập thể dục (Truyện ngắn) Hồ Đắc Vũ
  • - Quà cho con cái ngày lễ (Kiến thức trẻ) Đinh Yên Thảo
  • - Hạnh phúc một tang gia (Duyên sài gòn) Du Uyên
  • - Donald Trump và đồng minh Đông Á (Ghi nhận trong tuần) Vũ Hiến
  • - Lịch sự nơi công cộng (Giao tiếp) Minh Hải
  • - Bob Dylan & Giải Nobel văn chương 2016 (Tản mạn bên tách cà phê) Tim Nguyễn
  • - Mụn lẹo (Chuyện trò thấy thuốc) Nguyễn Ý Đức
  • - Bị phạt vì lái xe quá tốc độ (Luật pháp) Wilson Hưng Vũ
  • - Tin vịt (Thế giới của dế mèn) Trần Lý Lê
  • - Tìm hiểu về Medicare phần A, B, C và D (Bạn có biết) Dạ Thảo
  • - Norah John quay lại với dương cầm (Âm nhạc) Nhã Vy
  • - Một thử nghiệm nhạc Jazz vào văn hóa Việt (Phỏng vấn) Thanh Thư
  • - Cơm rang nước mắm (Tạp ghi) Tạ Phong Tần
  • - Chiếu Khán có sẵn, ngày ưu tiên và chuyển diện sớm (Di trú) Lê Minh Hải
  • - Nhớ về trận cháy cầu ông lãnh (Tạp ghi) Trang Nguyên
  • - Mua quà Giáng sinh (Bạn có biết) Hoàng Hương
  • - Mua hàng mùa lễ (Sổ tay khách hàng) Hạnh Việt
  • - Ngôi nhà thờ đổ nát của Cha (Những bông hoa cuộc sống) Như Sao
  • - Bộ phận oxygen sensor (Chiếc xe của bạn) Trịnh Kiều Phong
  • - Xe hơi và xe máy điện (Bạn có biết) Mai Hoàng
  • - Các cháu ngoan học vẽ chân dung bác nhé! (Facebook có gì ngộ) Daniel Văn
  • - Giải rượu (Trang phụ nữ) Sông Hương
  • - Tình yêu trong văn học Đông-Tây (Để gió cuốn đi) Hải-Vân
  • - Những điều cần biết về định giá nhà đất (Tạp ghi) Hương Võ
  • - Trà xanh, trà đen (Kiến thức phổ thông) Phượng Nghi
  • - Holidays & ăn diện (Thời trang) Điệu Cô Nương
  • - Vật tổ của các bộ tộc châu Phi (Nhìn ra thế giới) Ngọc Linh
  • - Ông già và chủ nghĩa xã hội huyền ảo (Lề chéo) Phạm Thị Hoài
  • - Đặt mua vé máy bay qua Google (Bạn có biết) Quỳnh Như
  • - Chú ý, trên taxi có sách! (Thế giới quanh ta) Dương Hùng
  • - Giáng sinh (Cái nhà của ta) Thiên Hương
  • - Thủ đô giáng sinh của Texas (Phóng sự) Andy Nguyễn
  • - 3 điều cần biết về việc bảo vệ hệ thống nối mạng không dây (Ứng dụng thường ngày) P324530
  • - Một thoáng với cái đẹp (Truyện ngắn) Nguyễn Hùng Vỹ Dịch
  • - Xông đất hậu hiện đại (Tạp ghi) Uyển Ca
  • - Lên đèn Noel (Vui lạ khắp nơi)
  • - Có nên dùng watermark? (Góc nhiếp anh) Andy Nguyễn
  • - Nắng hàng cau (Tài liệu văn học) Khuất Đẩu
  • - Băng dán theo dõi sức khỏe (Sản phẩm mới) Bảo Sơn
  • - Rượu và thơ! (Phiếm) Đoàn Xuân Thu
  • - Đại hội kiều bào địa đạo Củ Chi & em Lê Văn Tám (Sổ tay thường dân) Tưởng Năng Tiến
  • - Đồng chí Vi Quốc Thanh trong viện trợ Việt Nam đấu tranh chống Pháp (Trong hầm rượu) Trần Vũ
  • - Bị bệnh trong mùa lễ (Y tế và đời sống) Triệu Minh
  • - Mùa Đông không nhà (Chuyện đời thường) Huy Phương
  • - Thăm trân châu cảng (Tạp ghi) Việt Phương
  • - Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa (Tạp ghi) Hỷ Long
  • - Tình chàng ý thiếp (Đời sống) Ngân Bình
  • - An sinh xã hội (Đời sống) Angie Hồ Quang
  • - Thơ phùng khắc bắc (Thơ)
  • - Y rằng (Câu lạc bộ tiếu lâm)
  • - Tin thể thao (Thể thao)
  • - Đổi bằng lái xe (An toàn giao thông)
  • - Hai lần (Chuyện khó tin nhưng có thật)
  • - Thế giới qua ống kính (Tin tức)
  • - Mỗi tuần 1 con số (Tin tức)
Facebook Comments
SHARE