Đọc văn Thảo Trường

Thảo Trường là nhà  văn nổi tiếng của Miền Nam.

Ông tên thật là Trần Duy Hinh, sinh năm 1936 tại làng Quang Sán, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định. Vào Nam năm 1954.  Ông là sĩ quan quân lực Việt Nam Cộng Hòa, phục vụ khắp lãnh thổ từ Quảng Trị cho đến đồng bằng sông Cửu Long. Tác phẩm đầu tiên của ông là cuốn Thử Lửa xuất bản năm 1962. Sau đó ông được mọi người biết đến với các tác phẩm như Người Đàn Bà Mang Thai Trên Kinh Đồng Tháp (1966), Vuốt Mắt (1969), Cánh Đồng Đã Mất (1971), Người Khách Lạ Trên Quê Hương (1972), Cát (1974) và nhiều tác phẩm khác.

Sau biến cố 1975, ông là một trong những người bị giam cầm lâu nhất trong các trại cải tạo, cả trong Nam lẫn ngoài Bắc tổng cộng 17 năm. Năm 1993 Thảo Trường sang Mỹ đoàn tụ với gia đình vợ con, và lại tiếp tục sáng tác. Ông mất năm 2010.

 thaotuong04

Nhà văn Thảo Trường

Cuốn sách đầu tiên của Thảo Trường thời kỳ sau cải tạo là Tiếng Thì Thầm Trong Bụi Tre Gai xuất bản năm 1995 tại Pháp, từ đó ông tiếp tục xuất bản một cách đều đặn: Đá Mục (1998), Tầm Xa Cũ, Bắn Hiệu Quả (1999), Mây Trôi (2002), Miểng (2006), Thềm Đá Xanh Rêu (2007)…. Tác phẩm quan trọng nhất của ông, tuyển tập Những Miểng Vụn Của Tiểu Thuyết đã được Người Việt xuất bản vào năm 2008. Ông còn một số tác phẩm dự trù sẽ xuất bản: Cây Bông Giấy Trước Nhà (truyện dài), Bên Ngoài Nghĩa Trang (truyện dài), Bố Cáo Thất Tung (truyện dài), Thân Thể Người Ta (truyện dài), Bà Phi (trường thiên tiểu thuyết).

Thảo Trường vừa là người chứng kiến vừa là người tham dự vào cuộc chiến Việt Nam, và cũng là người sống đầy đủ kinh nghiệm giai đoạn sau cuộc chiến – tù cải tạo, rồi cả giai đoạn lưu vong tại Mỹ. Đặc điểm của giai đoạn nào cũng được ông thể hiện bằng những nét sắc sảo điển hình trong các tác phẩm của mình. Sau đây, mời độc giả đọc một truyện ngắn đặc sắc, tiêu biểu của Thảo Trường.

NGUYỄN & BẠN HỮU – (theo tài liệu của VOA)

Người Đàn Bà Mang Thai Trên Kinh Đồng Tháp

Con kinh thẳng tắp dài hun-hút kéo từ Gẫy Cờ Ðen đến quận lỵ Mỹ An, nhìn trên bản đồ nó èo ọt như một chiếc que đan. Hai bên bờ kinh cây cối um-tùm, ngả nghiêng che phủ gần kín hết ánh sáng của mặt trời chiếu xuống mặt nước. Kinh rộng độ mười thước, nước đục lờ đờ, vài cây bèo cam phận hẻo lánh. Nhà cửa rải rác ẩn hiện dưới những tàn cây. Rất nhiều những con lạch nhỏ ăn thông từ cánh đồng ra lòng kinh. Ðường mòn đã chật chội lại khúc khuỷu bởi những cây cầu khỉ bắc ngang những con lạch đó. Nhà chị Tư ở khoảng giữa con kinh, gần bến đò, cuối  đường đi vào Tháp. Chị Tư sống và lớn lên ở đây. Ngoài thời gian mấy tháng phải về binh vận tại chợ quận, chị Tư không hề biết đến đời sống rộng lớn của cái thế  giới này. Con kinh đã cô lập chị trong những kỷ niệm chật chội. Thật vậy, chị Tư chưa đi xa hơn đầu con kinh, chị Tư chưa đi quá chợ quận. Chồng chị tập kết từ mười năm nay không về. Thỉnh thoảng chị cũng nhận được thư của anh do những người cán bộ chuyển từ ngoài Bắc vào. Thư nào chồng chị cũng nói là khoẻ mạnh, vì bận công tác nên chưa về được. Vợ chồng chị lấy nhau được chừng nửa năm thì anh Tư đi theo bộ đội tập kết. Chị Tư ở lại với bà mẹ chồng quanh quẩn, mòn mỏi. Bà mẹ anh Tư đã chết cách đây hai năm với một niềm ân hận là không  được gặp mặt lại đứa con trai duy nhất của bà. Chị Tư từ đó chỉ còn một mình trong căn nhà vắng vẻ. Vào những buổi chiều chị ra ngồi ở bờ tre sau nhà, nhìn ra cánh đồng trống mênh mông, nghĩ tới anh Tư. Những lúc đó niềm cô đơn trong lòng chị nhức nhối nát ruột nát gan và chị ứa nước mắt cho số phận. Hồi anh Tư mới đi tập kết, mẹ con chị sống côi cút với những hy vọng từng năm, từng năm, đợi ngày anh Tư trở lại. Anh Tư chưa bao giờ trở lại nhưng có những đồng chí của anh trở lại. Lúc đầu họ còn ẩn hiện trong xóm, dần dần họ đi lại công khai, và tầm hoạt động của những người dân vệ trong đồn bến đò càng ngày càng thu hẹp lại. Ðến một đêm súng nổ ran và lửa cháy thiêu trụi tất cả đồn đó. Ngày hôm sau máy bay đến oanh tạc dọc theo bờ kinh làm cho những cây cối vốn đã khẳng khiu lại càng khẳng khiu vì bị những lằn đạn làm ngã gục. Rồi thôi… Những anh cán bộ vẫn tiếp tục chuyền từ nhà nọ sang nhà kia, hết rỉ tai từng người lại tập trung cả xóm học tập. Chị Tư biết đến những tiếng Tự do, Dân chủ, Ðộc lập, Hạnh phúc, Căm thù, Ðả đảo… và nhiều tiếng  nữa. Nhưng rồi chừng hơn một năm sau quân đội đến. Những anh cán bộ liền vắng mặt. Mẹ con chị Tư lại được biết thêm một số tiếng lạ nữa. Chị đi làm Ấp chiến lược, chị học tập chính trị “tam túc”, “tam giác” trong vòng đai kẽm gai và bờ đất. Ðồn dân vệ được xây cất lại với bộ mặt mới. Yên được một dạo. Nhưng rồi những anh cán bộ lại ẩn hiện, lại mò mẫm rỉ tai trong đêm tối. Rồi đồn dân vệ lại nổ súng và cháy  trụi. Ấp chiến lược thành ấp chiến đấu. Mấy anh cán bộ lại học tập. Mẹ anh Tư chết vào thời kỳ này và không biết bà chết vì bệnh gì. Chị Tư lúc này đã trở nên một người biết tới hai chủ nghĩa, cộng-sản và nhân vị. Chị có thể nói rất trôi chảy về những chủ nghĩa đó vì chị đã được nghe quá nhiều lần. Rồi một hôm chị đươc đề cử đi binh vận tại chợ quận. Lúc đầu chị nhất định không chịu đi làm công tác đó, nhưng sau chị nhận được một lá thư do một anh cán bộ chuyển tới nói là của anh Tư ở ngoài kia gửi vào. Thư anh Tư khuyên chị nên hăng hái đi công tác binh vận theo chỉ dẫn của các đồng chí cán bộ. Chị Tư khăn gói lên chợ quận ở cùng với một cán bộ giả dạng làm em trai. Chị mở một quán cháo và từ cái quán cháo đó chị quen với một anh binh sĩ truyền tin trong quận. Chú em trai của chị cũng trở thành một anh dân vệ trong quận. Thời gian này chị Tư quên đi mất hình ảnh anh Tư, vì chị Tư đã được sống lại những cảm giác khoái lạc đến hỗn độn với anh binh sĩ truyền tin và “chú” em trai cán bộ. Chị giãy giụa trong những niềm hoan lạc tràn ngập đó. Một hôm, cái thai trong bụng chị máy động. Cái máy động thứ nhất làm chị bàng hoàng. Chị tự hỏi “nó” là của ai? Của anh cán bộ hay anh binh sĩ truyền tin? Chị thẫn thờ cả người và chị muốn rời ngay cái chốn đó. Chị tự hỏi của ai? Chị muốn biết của ai ? Cái thai của ai cũng được nhưng chị phải biết chắc là của người  nào. Lúc này chị lại nghĩ tới anh Tư dữ dội. Và chị Tư bỏ dở công tác binh vận. Chị trở về căn nhà xiêu vẹo ở ven bờ kinh. Chị khóc ròng vì không biết cái thai của ai. Chị khóc ròng vì anh Tư đi mãi không về. Lúc đó chị mới nghiệm ra rằng trong những lúc chị quằn quại khoái lạc với anh cán bộ hay với anh binh sĩ  truyền tin, chị không nghĩ tới anh Tư nhưng đó là những lúc chị sống lại, tìm thấy cái cảm giác mười năm về trước. Chị tìm thấy mà chị không biết là thấy. Anh cán bộ cũng đào ngũ dân vệ, trở về xóm với chị. Anh hằn học với chị, anh mắng nhiếc chị đã làm hỏng kế hoạch của anh. Anh hành hạ chị ngay cả những lúc anh ngủ với chị. Cái thai mỗi ngày một đập mạnh và bụng chị Tư lớn dần lên. Một hôm chị hỏi anh cán bộ cái thai trong bụng chị là con của ai, anh ta bảo là con của Ðảng.

 thaotuong04

ĐINH CƯỜNG

Trong phong trào thi đua đặt chông bẫy diệt Mỹ phòng thủ xóm, anh cán bộ giao cho chị Tư một quả  lựu đạn, bảo chị phải kẻ một khẩu hiệu “Ðả đảo Ðế quốc Mỹ” mắc lên một thân cây và gài trái lựu đạn vào sau tấm biểu ngữ làm bẫy. Anh còn làm cho chị xem, rồi tháo ra để chị tự làm lấy. Anh lý luận rằng phải chính chị tự tay làm lấy để cho hành động thấm nhuần tư tưởng! Chị Tư ì ạch kẻ khẩu hiệu “Ðả  đảo Ðế quốc Mỹ” trên một tấm ván gỗ. Chị Tư ì ạch vác thang ra gốc cây trước cửa nhà. Chị Tư ì ạch mang cái  bụng chửa lên thang. Chị Tư ì ạch đóng đinh tấm bảng vào thân cây và buộc quả lựu  đạn nơi phía sau tấm bảng. Chị Tư ì ạch cột sợi dây oan nghiệt từ chốt lựu đạn sang một cành cây, trước cặp mắt khuyến khích của anh cán bộ đứng dưới. Mồ hôi chị Tư vã ra ướt đẫm cả quần áo. Chị tuột xuống thang trở vào nhà thay quần áo khác rồi trở  ra ngồi ở  bậc cửa nhìn lên tấm bảng khẩu hiệu “Ðả đảo Ðế-quốc Mỹ”. Anh cán bộ mang hộ chị chiếc thang vào sau nhà, xong cũng ra ngồi kề bên chị. Chị Tư ứa nước mắt nhìn tấm bảng, nhìn anh ta, rồi chị dắt anh ta vào giường. Chị Tư đè ngửa anh cán bộ xuống rồi chị khóc nấc lên thành tiếng: “Tôi đây, tôi là của anh, nhà của tôi là của anh, cái bào thai này cũng là của  anh. Nó phải là của anh!” Anh cán bộ ú ớ dưới ngực chị: “Nó là của Ðảng! Tất cả là của Ðảng!”

Cuộc hành quân đến xóm đó thì dừng lại. Người sĩ quan chỉ huy bước vào nhà chị Tư. Anh cán bộ không còn ở đó. Chị Tư ngồi ôm bụng trên chiếc chõng tre nhìn người sĩ quan. Người sĩ quan quan sát khắp gian nhà. Bên ngoài toán lính đang sục sạo tìm kiếm. Một anh vào báo cáo với người sĩ quan, cuộc tìm kiếm không có gì khả nghi ngoại trừ cái khẩu hiệu “Ðả đảo Ðế quốc Mỹ”. Người sĩ quan ra lệnh không ai được đụng tới tấm bảng. Mới lúc nãy hai người đồng đội của họ chết vì vô ý giật một tấm khẩu hiệu trên cây xuống và đã bị lựu đạn nổ tan xác.

Người sĩ quan bước ra dưới gốc cây ngước lên quan sát rồi trở vào hỏi chị Tư “Ai gài tấm biểu ngữ Ðả đảo Ðế quốc Mỹ ngoài kia?” Chị Tư nói “Tôi gài”. Người sĩ quan nói “Ra gỡ xuống”. Chị Tư nói “Lạy cậu, nổ chết tôi”. Người sĩ quan lại hỏi “Chồng chị đâu?” Chị Tư trả lời “Mất tích mười năm nay rồi”. Sĩ quan nói “Tập kết hả?” Chị Tư gật đầu và y quát chị ra gỡ tấm khẩu hiệu xuống. “Chị làm chị chịu ai bảo cài lên”. Chị Tư vẫn ngồi ì ra. Người sĩ quan rút súng lên đạn. Chị Tư hoảng sợ ôm bụng ì  ạch đứng dậy. Chị Tư ì ạch với cây gậy dựa nơi góc nhà. Chị Tư ì ạch bước ra gốc cây. Chị Tư ì ạch giơ gậy lên giáng thật mạnh vào tấm bảng khẩu kiệu “Ðả đảo Ðế quốc Mỹ.” Và trái lựu đạn văng xuống. Chị Tư  hốt hoảng vứt gậy bỏ chạy. Toán lính nằm rạp cả xuống. Nhưng trái lựu đạn không nổ. Chị Tư ngã sấp mặt xuống trước cửa nhà. Nước mắt chị trào ra. Ngất đi…

Chị Tư bị động thai. Người sĩ quan bế chị vào nhà đặt nằm trên giường săn sóc cho chị. Suốt đêm đó chị Tư bị hâm hấp sốt, thỉnh thoảng chuyển bụng. Người sĩ quan đứng cúi đầu bên giường chị. Chiếc đèn dầu lập loè chiếu bóng anh ta hắt lên vách méo mó. Gần sáng chị Tư sinh một đứa con trai thiếu tháng. Người sĩ quan đỡ đẻ cho chị, anh ta làm công việc đó rất chăm chỉ. Ðứa bé khỏe mạnh khóc lên những  tiếng làm cho anh ta vui ra mặt. Hắn luôn luôn sờ trán chị Tư. Chị đã tỉnh và mỉm cười với hắn. Hắn cười lại… Sáng hôm sau y sĩ đơn vị đóng cách đấy hơn cây số được mời tới săn sóc cho mẹ con chị Tư. Mấy hôm sau, người sĩ quan đến hội đồng xã, mới được thành lập lại một lần nữa tại đồn dân vệ bến đò, làm khai sinh cho đứa bé. Hỏi cha nó đâu chị Tư lắc đầu trả lời không có, nên người sĩ quan bèn khai cho nó mang họ của ông ta. Lúc trở về căn nhà chị Tư, người sĩ quan lại sờ trán chị Tư, sờ trán đứa nhỏ và nói với mẹ con chị rằng có lẽ anh ta cũng đã có nhiều con nhưng không biết chúng ở đâu và chưa hề khai sinh cho đứa nào. Bèn khai sinh cho đứa nhỏ này mang dòng họ của mình.

o O o

Nhắn-tin: Nhắn cậu nhỏ mang dòng họ cùng với tôi, hai mươi năm nữa, cậu khôn lớn (lời nhắn tin này chỉ gửi đến cậu khi cậu đã trên hai mươi tuổi), lúc đó tôi không biết cậu sống trong hoàn cảnh nào, trong một xã hội nào. Cậu cho tôi xin cậu một điều là, trước khi cậu hành động, trước khi tranh đấu, trước khi cách mạng, trước khi biểu tình, trước khi đảo chánh, trước khi lật đổ, trước khi hành quân, trước khi thuyết pháp, trước khi cầu nguyện, trước khi hội thảo, trước khi thụt két, trước khi hành lạc, trước khi đập phá, trước khi  hy sinh… nghĩa là trước khi quyết định làm một việc gì, xin cậu… chỉ xin cậu hãy nghĩ  đến người đàn bà mang thai khốn khổ, hãy nghĩ tới những người mẹ bị rất nhiều chủ nghĩa với những danh từ hoa mỹ hành hạ. Xin cậu  hãy nghĩ tới cái hình ảnh đó, tôi cầu xin cậu như thế, vì tôi chính là tên sĩ quan đã hành hạ mẹ cậu, đã đỡ đẻ cho mẹ cậu sau khi các đồng đội của tôi chết vì những thứ khẩu hiệu như cái khẩu hiệu “Ðả đảo Ðế quốc Mỹ” ấy.

TT – Saigon.VN. 27.11.1964

------------------------------------------

Những bài trên báo Trẻ phát hành Thứ Tư ngày 07 tháng 12 năm 2016

(xin lấy báo tại các thân chủ đăng trên báo Trẻ)

  • - Từ giải trí đến chính trường (Thể thao) Trần Trí Dũng
  • - Tập thể dục (Truyện ngắn) Hồ Đắc Vũ
  • - Quà cho con cái ngày lễ (Kiến thức trẻ) Đinh Yên Thảo
  • - Hạnh phúc một tang gia (Duyên sài gòn) Du Uyên
  • - Donald Trump và đồng minh Đông Á (Ghi nhận trong tuần) Vũ Hiến
  • - Lịch sự nơi công cộng (Giao tiếp) Minh Hải
  • - Bob Dylan & Giải Nobel văn chương 2016 (Tản mạn bên tách cà phê) Tim Nguyễn
  • - Mụn lẹo (Chuyện trò thấy thuốc) Nguyễn Ý Đức
  • - Bị phạt vì lái xe quá tốc độ (Luật pháp) Wilson Hưng Vũ
  • - Tin vịt (Thế giới của dế mèn) Trần Lý Lê
  • - Tìm hiểu về Medicare phần A, B, C và D (Bạn có biết) Dạ Thảo
  • - Norah John quay lại với dương cầm (Âm nhạc) Nhã Vy
  • - Một thử nghiệm nhạc Jazz vào văn hóa Việt (Phỏng vấn) Thanh Thư
  • - Cơm rang nước mắm (Tạp ghi) Tạ Phong Tần
  • - Chiếu Khán có sẵn, ngày ưu tiên và chuyển diện sớm (Di trú) Lê Minh Hải
  • - Nhớ về trận cháy cầu ông lãnh (Tạp ghi) Trang Nguyên
  • - Mua quà Giáng sinh (Bạn có biết) Hoàng Hương
  • - Mua hàng mùa lễ (Sổ tay khách hàng) Hạnh Việt
  • - Ngôi nhà thờ đổ nát của Cha (Những bông hoa cuộc sống) Như Sao
  • - Bộ phận oxygen sensor (Chiếc xe của bạn) Trịnh Kiều Phong
  • - Xe hơi và xe máy điện (Bạn có biết) Mai Hoàng
  • - Các cháu ngoan học vẽ chân dung bác nhé! (Facebook có gì ngộ) Daniel Văn
  • - Giải rượu (Trang phụ nữ) Sông Hương
  • - Tình yêu trong văn học Đông-Tây (Để gió cuốn đi) Hải-Vân
  • - Những điều cần biết về định giá nhà đất (Tạp ghi) Hương Võ
  • - Trà xanh, trà đen (Kiến thức phổ thông) Phượng Nghi
  • - Holidays & ăn diện (Thời trang) Điệu Cô Nương
  • - Vật tổ của các bộ tộc châu Phi (Nhìn ra thế giới) Ngọc Linh
  • - Ông già và chủ nghĩa xã hội huyền ảo (Lề chéo) Phạm Thị Hoài
  • - Đặt mua vé máy bay qua Google (Bạn có biết) Quỳnh Như
  • - Chú ý, trên taxi có sách! (Thế giới quanh ta) Dương Hùng
  • - Giáng sinh (Cái nhà của ta) Thiên Hương
  • - Thủ đô giáng sinh của Texas (Phóng sự) Andy Nguyễn
  • - 3 điều cần biết về việc bảo vệ hệ thống nối mạng không dây (Ứng dụng thường ngày) P324530
  • - Một thoáng với cái đẹp (Truyện ngắn) Nguyễn Hùng Vỹ Dịch
  • - Xông đất hậu hiện đại (Tạp ghi) Uyển Ca
  • - Lên đèn Noel (Vui lạ khắp nơi)
  • - Có nên dùng watermark? (Góc nhiếp anh) Andy Nguyễn
  • - Nắng hàng cau (Tài liệu văn học) Khuất Đẩu
  • - Băng dán theo dõi sức khỏe (Sản phẩm mới) Bảo Sơn
  • - Rượu và thơ! (Phiếm) Đoàn Xuân Thu
  • - Đại hội kiều bào địa đạo Củ Chi & em Lê Văn Tám (Sổ tay thường dân) Tưởng Năng Tiến
  • - Đồng chí Vi Quốc Thanh trong viện trợ Việt Nam đấu tranh chống Pháp (Trong hầm rượu) Trần Vũ
  • - Bị bệnh trong mùa lễ (Y tế và đời sống) Triệu Minh
  • - Mùa Đông không nhà (Chuyện đời thường) Huy Phương
  • - Thăm trân châu cảng (Tạp ghi) Việt Phương
  • - Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa (Tạp ghi) Hỷ Long
  • - Tình chàng ý thiếp (Đời sống) Ngân Bình
  • - An sinh xã hội (Đời sống) Angie Hồ Quang
  • - Thơ phùng khắc bắc (Thơ)
  • - Y rằng (Câu lạc bộ tiếu lâm)
  • - Tin thể thao (Thể thao)
  • - Đổi bằng lái xe (An toàn giao thông)
  • - Hai lần (Chuyện khó tin nhưng có thật)
  • - Thế giới qua ống kính (Tin tức)
  • - Mỗi tuần 1 con số (Tin tức)
Facebook Comments