Cứu trợ Thương Phế binh VNCH

TPB Nguyễn Văn Đức

Sinh năm 1952. Số quân 72/101.303. Đơn vị: Đại đội 2, Tiểu đoàn 2, Tr/Đoàn 3, SĐ 1/BB. KBC 4848.

NguyenVanDucTPBienHoaDongNai

Ngày10/3/1974 khi cùng đơn vị tác chiến tại căn cứ Mõ Tàu La Sơn, Huế, ông đạp phải mìn của VC. Thương tật: Cụt hai chân, hư mắt trái. Sau ngày 30/4/1975 ông bị đuổi ra khỏi Trung tâm 3 Hồi Lực Saigon khi còn đang nằm dưỡng thương tại đây.

Ông có vợ và một đứa con gái, vợ chồng ông sinh sống bằng nghề bán vé số. Năm 2015 vợ chết, hiện ông ở với đứa cháu ngoại và hàng ngày vẫn đi bán vé số và ăn xin. Do hàng ngày ngồi lề đường hít phải không khí bụi bặm nên ông bị nhiều thứ bệnh về đường hô hấp và tim. Rất cần được giúp đỡ từ các Mạnh Thường Quân ở Hải Ngoại.

Mọi sự giúp đỡ xin liên lạc

Địa chỉ:  số 252, ấp Long Khánh 3, xã Tam Phước, thành phố Biên Hòa, Đồng Nai.

Điện Thoại: 0973 125 266.


TPB Trần lưu Lũy

Sinh năm 1950. Binh chủng Thiết Giáp. Số quân 70/200.576.

TranLuuLuyHuongXuanHuongTraHue

Xạ thủ súng đại liên 12 ly 7. Đơn vị: Chi Đoàn 1 thuộc Thiết đoàn 11 Kỵ Binh hậu cứ đóng tại quận Đông Hà, Quảng trị. Tháng 8/1969  đơn vị ông cùng phối hợp tác chiến với đơn vị bạn SĐ 1 Bộ binh tại quận Gio Linh, xe tăng ông bị trúng đạn B40, ông bị mù 2 mắt. Sau thời gian điều trị qua các Quân Y Viện ông chính thức giải ngũ có cấp dưỡng vĩnh viễn 100% tháng 1/1972.

Hoàn cảnh: Không vợ sống nhờ em trai, trước đây đi bán vé số nay ông phải vào sống nhờ Hội Người Mù ở huyện Hương Trà, gần đây hội này ngưng hoạt động do không còn được chính quyền tài trợ ông lại trở về sống nhờ em trai và tình thương của hàng xóm. Ông bị bệnh cao máu và sa trực tràng. Ngoài thương tật mù đui mấy chục năm qua, nay lớn tuổi ông lại mang thêm bệnh tật nên hoàn cảnh khó khăn vô cùng. Rất cần các nhà Hảo tâm có tấm Lòng Vàng hải ngoại giúp đỡ.

Mọi sự giúp đỡ xin liên lạc:

Địa chỉ:  Ông Trần Lưu Lũy – Tổ Dân phố Liễu Nam, Phường Hương Xuân, Thị Xã Hương Trà, Thừa Thiên Huế.

Điện thoại : 0162 694 3336.


TPB Huỳnh Trạch Hùng

Sinh năm 1956. Số quân 76/118.776. Đơn vị: Đại đội 4, Tiểu đoàn 2, Tr/đoàn 15, SĐ 9/BB

Tpb Huynh Trach Hung

Tháng 11/1974 khi cùng đơn vị hành quân  tại quận Mộc Hóa, Kiến Tường (nay thuộc tỉnh Long An) anh đạp phải mìn bị cụt 2 chân, vết thương đầu. Được đơn vị tải thương về Bệnh viện 3 Dã Chiến Mỹ Tho.

Sau ngày 30/4/75 anh bị vc đuổi ra khỏi bệnh viện với vết thương chưa lành hẳn.

Hoàn cảnh: vợ chồng anh sống nghề bơm vá xe tại nhà. Cách nay ba năm anh bị tai biến liệt nửa người bên trái hiện anh di chuyển (lết) rất khó khăn cộng thêm vết thương đầu làm anh bị thần kinh nhẹ. Vợ anh cũng bệnh tiểu đường, tim, bao tử. Hàng ngày bơm vá xe không đủ sống. Chị không có tiền chạy chữa cho bản thân nhưng vẫn nói: “Cầu xin Trời Phật cho tôi chết sau anh Hùng, vì nếu tôi chết trước sẽ không có người lo cho anh” .

Mọi sự giúp đỡ xin liên lạc:

Địa chỉ: Anh Huỳnh Trạch Hùng – 130 Thái Phiên, phường 8 quận 11 Saigon.
Điện Thoại Vợ: 0901 858 891.


TPB Võ Văn Toản

Sinh năm 1950. Tình nguyện vào Quân Lực VNCH năm 1969. Số quân NQ/477.349 Đơn vị: Nghĩa quân chi khu Tri Nhơn, Tiểu khu Kiến Tường.

Tpc Vo Van ToanChiều tối ngày 1/4/1974 trong khi đi tiền đồn  anh đạp phải mìn bị cụt 2 đùi, miểng vào tay trái làm co rút năm ngón tay. Sau ngày 30/4 anh bị vc đuổi ra khỏi QYV Phan Thanh Giản khi còn đang điều trị tại đây.

Hoàn cảnh: anh không vợ, trước đây còn sức khỏe anh sống nghề giăng câu bắt cá sống qua ngày, nay anh lớn tuổi bị nhiều thứ bệnh, gây đau nhức nên anh không còn kiếm sống được nữa phải sống nhờ vào em gái. Hoàn cảnh hiện tại của anh Toản rất khó khăn.

Mọi sự giúp đỡ xin liên lạc:

Địa chỉ: Anh Võ Văn Toản – 62 ấp Bà Luông, xã Thuận Nghĩa Hòa, huyện Thạnh Hóa, Long An.
Điện Thoại em gái: 0986 779 027.


TPB Nguyễn Văn Hóa

TPB-Nguy_n-V_n-H_a-1

Sinh năm 1951. Tình nguyện vào Lực lượng Địa Phương Quân tại quê nhà năm 1969. Số quân 734.869. Đơn vị : Đại đội 967 Biệt Lập thuộc Tiểu khu Ba Xuyên.

Tháng 7/1973 trong cuộc hành quân anh nhận nhiệm vụ tháo gỡ các chướng ngại vật để dọn đường, không may anh bị một trái Bêta phát nổ làm anh bị cụt 2 tay, mù 2 mắt. Đã giải ngũ tháng 12/1974 có cấp dưỡng 100%, đệ tam nhân. Có nghĩa là ngoài phần lương lãnh hàng tháng anh còn được chính phủ VNCH cấp thêm hai phần lương nữa để trả tiền cho người chăm sóc anh.

Hoàn cảnh : anh không vợ sống nhờ em trai cũng nghèo vì ruộng đất ít, làm lúa không đủ ăn, người em phải làm thuê mướn thêm để lo cho anh Hóa từ miếng ăn (đút cơm) đến tiền thuốc vì anh hiện bị nhiều thứ bệnh. Hoàn cảnh anh Hóa rất khó khăn, cần được Quý Mạnh thường Quân Hải ngoại giúp đỡ.

Mọi sự giúp đỡ xin liên lạc:

Địa chỉ: Nguyễn Văn Hóa – 65 ấp Mỹ Lợi C, xã Mỹ Tú, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng.
Điện thoại em trai tên Nên: 0169 806 6471.


TPB Nguyễn Hớn

TPB-Nhuy_n-H_n-1

Sinh năm 1948. Nhập ngũ tháng 1/1969. Số quân 169.631. Đơn vị: Nghĩa quân chi khu Quế Sơn, Quảng Nam.

Ngày 12/11/1970 khi cùng đơn vị hành quân lục sóat phần địa phận phụ trách anh đạp phải mìn bị cụt 2 đùi. Đã giải ngũ có cấp dưỡng 100% năm 1974.

Hoàn cảnh: có vợ và ba con. Sống nơi nông thôn đất chỉ có 200 mét vuông nên các con anh phải đi làm thuê mướn nơi xa. Vợ anh làm mướn trong thôn xóm, ai kêu đâu làm đó, khi có khi không nên cuộc sống anh thiếu thốn quanh năm, đã vậy anh còn mang nhiều thứ bệnh mà người lớn tuổi thường gặp phải. Cần được các ân nhân có tấm Lòng Vàng, giàu lòng Nhân Ái ở Hải ngoại giúp đỡ.

Mọi sự giúp đỡ xin liên lạc:

Địa chỉ: Nguyễn Hớn – tổ 1 thôn 5, xã Quế Thuận, huyện Quê Sơn, tỉnh Quảng Nam.
Điện thoại: 0166 753 9219.


TPB Nguyễn Văn Út

tpb-1061-02

Sinh năm 1955. Tình nguyện vào Binh chủng Thủy Quân Lục Chiến năm 1972. Số quân 75/156.797.

Đơn vị: Đại đội 1, Tiểu đoàn 9 Mãnh Hổ, KBC 6626. Đại đội trưởng: Trung úy Lưu Văn Phán. Tiểu đoàn Trưởng: Thiếu Tá Lâm Tài Thạnh.

Tháng 6/1974 trong một trận đánh tại quận Triệu Phong, Quảng Trị anh bị pháo kích miểng trúng vào cột sống làm liệt 2 chân. Ngày 1/5/1975 cùng chung số phận với các Thương bệnh binh khác, anh bị vc đuổi ra khỏi Quân Y Viện Cộng Hòa khi còn điều trị tại đây.

Hoàn cảnh: anh Út không vợ, sống nhờ cháu trai, năm 2014 người cháu này chết, hiện phải sống nhờ chị. Do nằm một chỗ lâu ngày phần mông và hai chân lở loét bị hoại tử nên phải cắt bỏ hai chân vào tháng 3/2017.

Mọi sự giúp đỡ xin liên lạc:

Địa chỉ: Nguyễn Văn Út – 364/18/13 Dương Quảng Hàm, phường 5 quận Gò Vấp, Saigon.
Điện thoại: 0903 367 435.


TPB  Nguyễn Khách

tpb-1061-01

Sinh năm 1934. Số quân 54/203.387. Đơn vị: Đại đội 1, Tiểu đoàn 2/46 – SĐ 25/BB.

Bị thương ngày 20/8/1968 tại Tiểu khu Hậu Nghĩa. Thương tật: cụt đùi trái, gãy liệt chân phải 100%.

Hoàn cảnh: có vợ và một con gái, vợ ông hai mắt đã mờ do lớn tuổi. Con gái ông hàng ngày đi làm công nhân hãng đường gần nhà để lo cho Ba Mẹ và con gái 12 tuổi còn đi học vì chồng cô đã chết năm 2014. Tháng 4/2017 ông Khách bị tai biến xuất huyết não, thụt lưỡi không nói được, bại liệt toàn thân, sau thời gian nằm nhà thương cấp cứu qua cơn nguy kịch, do nghèo khổ không tiền tiếp tục điều trị, con gái đưa ông về nhà cho uống thuốc cầm chừng.

Mọi sự giúp đỡ xin liên lạc:

Địa chỉ: Nguyễn Khách – tổ dân phố Thanh Châu, phường Ninh Giang, thị xã Ninh Hoà, tỉnh Khánh Hoà.

Điện thoại:  con gái tên Gầy: 0166 2255 208.


Luong-Van-Duoc-photo

TPB Lương Văn Được

Sinh năm 1955. Tình nguyện vào Lực lượng Địa Phương Quân tại quê nhà tháng 8/1972.

Đơn vị: Đại đội 2 Tiểu đoàn 419/ĐPQ thuộc Tiểu khu Châu Đốc.

Tháng 1/1974 khi đơn vị dừng quân nghỉ đêm tại chi khu Tịnh Biên, anh nhận nhiệm vụ gài mìn chung quanh nơi đóng quân, trên đường đi anh bị trợt chân ngã té, trái K3 cầm trên tay sút chốt nổ tại chỗ gây thương tích: cụt 2 tay, mù mắt trái.

Hoàn cảnh: có vợ và một con trai. Vợ anh ai kêu đâu làm đó, về nhà là lo cho anh (đút cơm và vệ sinh). Nhà không đất vườn con trai anh phải đi làm thuê mướn quanh năm để lo cho ba mẹ, và việc làm cũng khi có khi không nên cuộc sống của gia đình anh luôn thiếu thốn đủ bề.

Mọi sự giúp đỡ xin liên lạc về:
Địa chỉ:  Lương Văn Được – Tổ 7 ấp 4, xã Khánh Bình, huyện An Phú, tỉnh An Giang.
Điện thoại: 0919 385 961.


Nguyen-Van-Chiem-Photo

TPB  Nguyễn Văn Chiếm.

Sinh năm 1953.  Tình nguyện vào Binh chủng Thủy Quân Lục Chiến năm 1971.

Số quân 73/139.927. Đơn vị: Đại đội 3 – Tiểu đoàn 1 Quái Điểu.

Mùa hè đỏ lửa tháng 4/1972,  trong một trận chiến tại quận Triệu Phong Quảng Trị, anh bị mù 2 mắt từ trái đạn B40 của VC.

Hoàn cảnh: có vợ và một con gái có chồng ở riêng, vợ chồng anh sống với cháu ngoại. Nhà không có đất vườn, vợ anh hàng ngày làm mướn lột nhãn với đồng lương ít ỏi để lo cho chi phí sinh hoạt hàng ngày và tiền thuốc vì hiện nay anh bị nhiều thứ bệnh nên hoàn cảnh sống rất khó khăn.

Mọi sự giúp đỡ xin liên lạc về:
Địa chỉ: Nguyễn Văn Chiếm – tổ 18 Ấp Phú Mỹ 2, Đồng Phú, huyện Long Hồ, Vĩnh Long.
Điện thoại: 0163 5412 060


Nguy_n-V_n-T_nh-photo

TPB Nguyễn Văn Tính

Sinh năm 1956. Số quân 76/507.601. Đơn vị: Đại đội 1 -Tiểu đoàn 2, Trung đoàn16 – SĐ 9/BB.

Ngày 5/2/1975 trong một trận chiến tại quận Kiên Lương, T/K  Rạch Giá anh đạp phải mìn bị cụt tay trái, cụt đùi phải. Được đơn vị tải thương về QYV Long Xuyên, đến ngày 1/5/1975 bị vc đuổi ra khỏi nơi đây với vết thương còn rỉ máu.

Hoàn cảnh: Anh Tính không vợ sống với mẹ, mẹ mất hiện sống nhờ em trai, hàng ngày anh kiếm sống bằng nghề giăng lưới bắt cá bữa có bữa không. Hiện bị nhiều thứ bệnh lão, cần giúp đỡ.

Mọi sự giúp đỡ xin liên lạc về

Địa chỉ: Nguyễn Văn Tính – 79/4 ấp Long Hiệp, xã Long An, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.

Điện thoại: 0169 785 4314.


Chu_n-_y-Tr_n-H_u-Qu_c

TPB Trần Hữu Quốc

Sinh năm 1954. Số quân 74/216.998. Chuẩn Úy. Tốt nghiệp khóa 2A/72 Trường Bộ Binh Thủ Đức.

Đơn vị: Đại đội 1 – TĐ 121 Địa Phương Quân, T/K Quảng Trị.

Ngày 25/3/1975 khi cùng đơn vị di tản từ Quảng Trị về đến bãi biển Thuận An, Huế, anh bị đạn vào cột sống gây thương tật liệt hai chân. Được đưa về Quân Y Viện Duy Tân, khi Đà Nẵng mất anh bị đuổi ra khỏi nơi đây với vết thương trên người. Sau đó được bạn bè đồng đội đưa trở về nhà ba mẹ anh tại Huế.

Hoàn cảnh: anh không vợ, sau khi ba mẹ qua đời anh sống một mình từ năm 2006 đến nay. Do nằm một chỗ lâu ngày phần mông và lưng bị lở loét cộng thêm nhiều thứ bệnh lão, do đó cuộc sống của anh luôn gặp nhiều khó khăn từ miếng ăn đến tiền thuốc.

Mọi sự giúp đỡ xin liên lạc về:

Địa chỉ: Trần Hữu Quốc – Thôn Nam, xã Lộc An, huyện Phú Lộc, Tỉnh Thừa Thiên Huế.

Điện Thoại: 0163 289 5109.


NguyenVanHaoAnKheGiaLai

TPB Nguyễn Văn Hảo.

Sinh năm 1941. Số quân 202.944

Đơn vị: Nghĩa Quân chi khu An Túc, T/K Bình Định. Bị thương tháng 11/1967.

Thương tật: mù 2 mắt, gãy xương đùi trái, giải ngũ với cấp độ tàn phế 100 %, đệ tam nhân.

Hoàn cảnh: vợ chồng đã lớn tuổi không có con không còn làm gì để kiếm sống phải sống nhờ vào cháu trai và tình thương lối xóm.

Mọi sự giúp đỡ xin liên lạc về

Địa chỉ: Ông Nguyễn Văn Hảo – tổ 3, đường Hoàng Hoa Thám, phường An Phước, thị xã An Khê, tỉnh  Gia Lai.

Điện thoại: 0164 421 2656.


SonMichTTKeSachSocTrang

TPB Sơn Mích

Sinh năm 1933. Số quân 53/191.796. Trung sĩ

Đơn vị: Đại đội 1, TĐ 23 Biệt Động Quân. Bị thương tháng 3/1973 tại Đà Nẵng. Thương tật: đạn trúng đầu bên phải, khuyết sọ, liệt nửa người bên trái, tàn phế 100%.

Hoàn cảnh:  vợ chồng ông không đất ruộng sống với con trai làm thuê mướn, hiện nay ông bà lớn tuổi lại nhiều thứ bệnh, còn ông mỗi khi trái gió trở trời, vết thương trên đầu bị ảnh hưởng khiến ông nửa điên nửa tỉnh. Hoàn cảnh rất khó khăn.

Mọi sự giúp đỡ xin liên lạc về

Địa chỉ: Ông Sơn Mích – 189, tổ 7, ấp An Thành, Thị trấn Kế Sách, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng.

Điện thoại con dâu Thạch Thị Sơn: 0164 722 0638.


Nguy_n-V_n-X_-Photo

TPB Nguyễn Văn Xê

Sinh năm 1950. Số quân 70/115.543

Đơn vị: Đại đội 3, Tiểu đoàn 301/ĐPQ Tiểu khu Gia Định,

Tháng 11/1972  đơn vị anh được tăng phái xuống Bình Dương, trong cuộc chạm trán với VC tại quận Lái Thiêu anh bị trúng đạn B 40 gây thương tật: mù 2 mắt, cụt tay trái, tay phải mất 4 ngón.

Hoàn cảnh: có vợ bị tai biến mạch máu não, hiện bị tâm thần nhẹ và một con trai. Quê Bến Tre không ruộng đất anh theo con trai làm công nhân về sống tại Đồng Nai. Vợ chồng anh hiện bị nhiều thứ bệnh, vì vậy mọi sự đều trông cậy vào vợ chồng con trai với đồng lương công nhân ít ỏi nên cuộc sống gặp rất nhiều khó khăn.

Mọi sự giúp đỡ xin liên lạc về: Nguyễn Văn Xê – Tổ 11, khu A, ấp Bến Cộ, xã Đại Phước, huyện Nhơn Trạch, Đồng Nai.

Điện Thoại: con trai 0932 140 601 (con trai đi làm có thể không gọi được, xin gọi cháu Ngân nhà kế bên 0908 147 895).


Binh-nh_-Nguy_n-Ng_c-Th_nh

TPB Nguyễn Ngọc Thịnh.

Sinh năm 1953. Số quân 73/204.196.

Đơn vị: Đại đội 3 – TĐ 39 thuộc Liên Đoàn 12 Biệt Động Quân, Đà Nẵng.

Tháng 9/1973 trong cuộc hành quân tại quận Duy Xuyên Quảng Nam anh bị mìn, mù hai mắt. Đã giải ngũ ngày 14/1/1975 với cấp độ tàn phế 100%, cần người chăm sóc riêng.

Hoàn cảnh: Anh có vợ và hai con, vợ anh bị mù bẩm sinh, con trai lớn 40 tuổi bị nhũng não từ năm 13 tuổi, bại liệt nằm một chỗ, con gái có chồng ở xa. Hàng đêm anh kéo loa đi ca hát bán kẹo Sin gum tại các quán café, quán nhậu. Hiện nay anh bị bệnh suyễn không còn ca hát được nên đồng tiền kiếm được rất ít ỏi vì vậy cuộc sống gia đình anh đang gặp nhiều khó khăn.

Mọi sự giúp đỡ xin liên lạc về: Nguyễn Ngọc Thịnh – Xóm 6, Thôn Vân Hội 2, Thị trấn Diêu Trì, huyện Tuy Phước, Tỉnh Bình Định.

Điện thoại: 0168 3191 228.


TPB-Bùi-Van-Quý-1

TPB Bùi Văn Quý

Sinh ngày 01/02/ 1951. Số quân: 71/139.467.

Đơn vị: Đại đội 2, Tiểu đoàn 38 thuộc Liên đoàn 5 Biệt Động Quân, KBC 3508 hậu cứ đóng tại Long Bình, Biên Hòa. Đơn vị trưởng: Trung Tá Tăng Ngọc Trịnh.

Mùa hè đỏ lửa tháng 5/1972 đơn vị anh được tăng phái ra Quảng Trị, trong một trận chiến tại quận Thạch Hãn anh bị thương cụt cánh tay phải và bị bắt làm tù binh. Đến tháng 3/1973 được trao trả tù binh tại sông Thạch Hãn. Ngày 30/4/1975 anh còn dưỡng thương tại Trung tâm 3 Hồi Lực Saigon chưa giải ngũ.

Hoàn cảnh: vợ chồng anh không có con, cuối năm 2000 vợ chồng anh vượt biên đến Thái Lan. Trong lúc chờ được gọi đi phỏng vấn định cư, ngày 1/5/2015 khi đi bán bong bóng kiếm sống anh bị Cảnh sát Thái Lan bắt giữ vì tội di dân bất hợp pháp. Đến ngày 5/10/2017 anh bị trục xuất về Việt Nam, vợ anh vẫn còn ở Thái Lan. Hiện nay anh sống nhờ nhà em gái, bị bệnh phong hai chân sưng phù, rụng mất 9 đầu ngón chân, hoàn cảnh rất khó khăn.

Mọi sự giúp đỡ xin liên lạc về: Bùi Văn Quý – Ấp 2 Tây, xã Bàu Lâm, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.

Điện thoại: 0963 925 676.


TPB-Lê-M-u-1

TPB Lê Mẫu

Sinh ngày 04/04/1946. Số quân 46/511.905. Hạ Sĩ.

Đơn vị: Đại đội 489 thuộc Liên đội 35 Địa Phương Quân, Tiểu Khu Quảng Ngãi. Ngày 12/20/1971 trong cuộc hành quân Bảo an lãnh thổ tại quận Bình Sơn ông đạp phải mìn bị cụt 2 đùi. Đã giải ngũ tháng 12/1973 với mức độ thương tật 100% đệ tam nhân.

Hoàn cảnh: Ông có vợ và hai con, một trai, một gái đã ở riêng hoàn cảnh cũng nghèo khổ làm thuê mướn, vợ ông bị tai biến liệt nửa người bên trái. Hàng ngày ông làm rẫy trồng hoa màu trên diện tích đất khoảng 500 mét vuông phía sau nhà bán kiếm sống qua ngày, vừa qua bị ảnh hưởng bão ở miềnTrung, nhà ông bị ngập nước hư nhiều đồ đạc và hoa màu mất trắng  Nay ông tuổi đã ngoài 70 lại mang nhiều thứ bệnh: sỏi túi mật phải cắt bỏ, đại tràng, cao huyết áp… nên cuộc sống đang gặp rất nhiều khó khăn.

Mọi sự giúp đỡ xin liên lạc về: Ông Lê Mẫu – xóm 3, thôn Phước Thiện, xã Bình Hải, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.

Điện thoại: 0167 840 3270.


vo-sanh-the

TPB Võ Sanh Thê

Sinh năm 1949.

Số quân 49/M02.058.

Đơn vị: Nghĩa quân chi khu Minh Đức. Ngày 31/3/1973 trong cuộc hành quân bảo vệ an ninh lãnh thổ anh bị phỏng mặt, mù 2 mắt do ảnh hưởng trái mìn từ người đi trước anh đạp phải.

Hoàn cảnh: có vợ và một con trai làm thuê mướn vì không đất vườn, nhà đã nghèo khổ mà vợ chồng anh lại bị nhiều thứ bệnh lão.

Mọi sự giúp đỡ xin liên lạc về địa chỉ:

Võ Sanh Thế – 96 tổ 7, ấp Phước Lý 2, xã Quới Thiện, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long.

Điện thoại: con trai 0169 514 8890.


le-vancat

TPB Lê Văn Cất

Sinh năm 1954.

Số quân 54/847302.

Đơn vị: Đại đội 2 – TĐ 414/ĐPQ – T/K Kiên Giang.

Tháng 8/1974 trong một trận chiến tại quận Giồng Riềng anh bị trúng đạn B 40 gây thương tật cụt 2 tay, mù 2 mắt.

Hoàn cảnh: không vợ, sống nhờ chị dâu (anh trai đã chết) hiện bị nhiều thứ bệnh thường phải vào nhà thương điều trị. Hoàn cảnh rất khó khăn.

Mọi sự giúp đỡ xin liên lạc về địa chỉ:

Lê Văn Cất -23 tổ 2, ấp Hồng Hạnh. Thị trấn Giồng Riềng, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.

Điện thoại: chị dâu 0979 766 417.


Bản viết tắt các chữ dùng trong quân đội

Trong hồ sơ thương binh đăng trên báo Trẻ, chúng tôi thường viết tắt các danh từ thường được dùng trong Quân Đội, để cho độc giả hiểu rõ nghĩa các chữ viết tắt này, chúng tôi xin có bản tóm lược như sau:

– TPB: Thương Phế Binh – SQ: Số quân -QP: Quả phụ – ĐPQ: Địa Phương Quân -NQ: Nghĩa Quân -CLQ: Chủ Lực quân – BĐQ: Biệt Động Quân- ND: Nhảy Dù – TQLC: Thủy Quân Lục Chiến-Pháo binh:PB-…

TĐT: Trung Đội Trưởng- Tiểu Đoàn Trưởng- ĐĐT: Đại Đội Trưởng – TK: Tiểu Khu – CK: Chi Khu – TR.Đ: Trung Đội – ĐĐ: Đại Đội – TĐ: Tiểu Đoàn – SĐ: Sư Đoàn – SĐ23BB: Sư  Đoàn 23 Bộ Binh – QYV: Quân Y Viện. -V.I, II, III…CT: Vùng I… Chiến thuật.

Quy định về số quân:

NQ: Số quân của Nghĩa Quân chỉ có 6 số, không có hai số đầu.

ĐPQ: Số quân Địa Phương Quân, lấy năm sinh làm hai số đầu.

CLQ: Số quân của Chủ lực Quân, lấy năm sinh +20= hai số đầu (Ví dụ sinh năm 1940, số quân là 60/000.

1
2
SHARE

NO COMMENTS