Chuyện kể về mình

Một năm sau biến cố tháng 4 năm 75, bố tôi, trụ cột của gia đình, đột ngột qua đời sau cơn tai biến mạch máu não. Kỷ niệm về bố tôi không nhớ nhiều bởi vì hồi đó tôi còn nhỏ mà bố thì thường hay vắng nhà đi làm xa.  Nhưng với mẹ thì khác. Mẹ tôi không đẹp nhưng ở hoàn cảnh nào mẹ cũng được khen là phúc hậu và quý phái. Một mình còn lại với 8 người con và đứa cháu nội, trắng tay sau vài đợt đổi tiền, mẹ tôi vất vả ngược xuôi cố gắng chống chỏi với nghịch cảnh đổi đời

Bước vào tuổi thiếu niên, lứa tuổi mà theo Phạm Duy là “Tuổi thần tiên”, “Tuổi mộng mơ”, tôi không có cơ hội “mơ thành thi sĩ”, nhưng tôi vẫn tìm cách biểu hiện xúc cảm của mình qua vài câu thơ, vài dòng chữ trên những tờ giấy nháp rời hoặc là trên những trang giấy tập còn sót lại vào cuối năm học. Tôi viết về mẹ lận đận thân cò, từ bỏ kiêu sa, bán buôn vay mượn để nuôi con. Tôi viết về các anh chị em tôi.  Anh thứ ba ngày xưa chuẩn bị lên lon Thiếu Tá Hải Quân nay ốm o gầy mòn như các bạn đồng tù trong trại cải tạo mà mỗi lần thăm nuôi, nước mắt cả mẹ lẫn con cứ tuôn chảy thành dòng. Chị thứ tư của tôi hồi đó nổi tiếng “hoa khôi đường Trương Minh Ký”, sắp trở thành luật sư, nay lọc cọc chiếc xe đạp cũ ngày 2 buổi từ Phú Nhuận đến đường Cao Thắng làm việc kiếm tiền phụ mẹ nuôi em. Người anh thứ năm xin mẹ từ bỏ thế giới sinh viên hoa mộng tìm cách vượt biên để rồi vai mẹ lại phải oằn thêm 1 gánh nặng nữa khi anh bị bắt kết án ngồi tù. Các anh chị khác của tôi, người phải thay gia đình gia nhập tổ dân phố ngày ngày đi làm những công việc lao động mà trước giờ chưa bao giờ phải động tay tới, người ngã bệnh liệt giường chỉ bởi không quen với nắng mưa dầm dãi ngoài chợ trời, người thì phải xa nhà lên tận Củ Chi dạy học bữa đói bữa no, chỉ mong cuối tuần về nhà được mẹ gói ghém thêm cho vài bọc thức ăn khô mang theo cho ấm bụng. Tôi thương em và cháu tôi còn quá nhỏ mà cũng phải chịu chung tai biến của đất nước.

ben-nhau-ngay-vui
ảnh nguồn www.flickr.com

Tôi cũng viết về bản thân tôi, về những ngôi trường thân yêu tôi đã học qua. Trường tiểu học St Thomas (sau đổi tên thành Phú Nhuận) xây cất trong khuôn viên nhà thờ mà tuy không theo đạo Công Giáo nhưng bố mẹ vẫn cho chúng tôi đi học cho gần nhà, với các cô giáo cùng xóm sáng chiều gặp mặt gần gũi hòa đồng.  Trường Nữ Trung Học Gia Long (sau này bị đổi tên thành Nguyễn Thị Minh Khai) với những huy hiệu hoa mai kiêu hãnh đính trên tà áo trắng của đàn bướm nữ sinh và các thầy cô nghiêm trang nhưng gần gũi, lo lắng cho thân phận các học sinh cũng như thân phận của chính mình trong hoàn cảnh mới. Trường Nghệ Thuật Sân Khấu II trên đường Cống Quỳnh nơi tôi tập làm quen với thế giới văn nghệ để đêm đêm về tập đàn tranh cho mẹ nghe mà cảm nhận được mẹ trăn trở trong mùng lặng lẽ  khóc thầm nhớ chồng, nhớ các con kẻ trong tù, kẻ phiêu bạt nước ngoài, và thương cho tương lai những đứa còn lại. Ðó cũng là nơi tôi bắt đầu biết đến nỗi ngọt ngào của mối tình đầu ngây thơ bỡ ngỡ, cứ tưởng như là “thiên thu bất diệt”, trường đại học Tổng Hợp 4 năm đèn sách với những buổi hẹn hò sau giờ học trước cổng trường với một người con trai khác mà tôi đã bỏ lại sau lưng để theo gia đình về miền đất hứa.

Ánh mắt rời ánh mắt

Bàn tay rời bàn tay

Vội vàng quay lưng bước

Em rời bỏ chốn này

Tôi không viết được như một nhà văn, nhà thơ.  Tôi chỉ viết những gì mình suy nghĩ, không hẳn là nhật ký, cũng không thành một bài trọn vẹn mà chỉ là để giải tỏa tâm trạng.  Và rồi tất cả những gì tôi viết đều trở thành tro bụi trước khi tôi từ giã VN, từ giã một quãng đời tuy khổ cực nhưng cũng đầy yêu thương và kỷ niệm.

Sau khi gia đình tôi được may mắn đoàn tụ tại Arlington, TX, cuộc sống mới dồn dập những chuỗi ngày bận rộn vừa đi làm vừa trở lại trường, tôi không còn nhiều thời gian để viết.  Dù vậy, cũng có những lúc nỗi nhớ da diết bỗng nhiên len lén trở về gặm nhấm tâm tư khiến tôi quên mất là mình cần một giấc ngủ cho lại sức, quên luôn cả một môn thi sắp đến mà bài vở chưa học xong, tôi lại viết.  Tôi viết vì lúc đó tôi cảm thấy cô đơn, xa lạ với nơi tôi chọn là quê hương mới.  Trịnh Công Sơn có hỏi “Em còn nhớ hay em đã quên”, nhưng làm sao tôi quên được “…Sàigòn mưa rồi chợt nắng, nhớ phố xưa quen biết tên bàn chân …”, tôi nhớ lắm…

Nhớ quán ăn khuya, nhớ hàng quà dạo

Nhớ nắng trưa hè, nhớ phố mưa đêm

Bạn bè truyền tay câu thơ, dòng nhạc

Giọng nói, tiếng cười, rộn rã yêu thương

Tôi nhớ về  các bạn còn ở lại VN, về những ngày đi học cực khổ nhưng đầy ắp vui, buồn, thương, giận. Tôi viết về các học trò tôi tới dạy đàn, dạy kèm toán, kèm Anh Văn. Và tôi lại viết về mẹ tôi hàng ngày thui thủi một mình trong khi các con phải làm quen với cuộc sống mới.  Niềm vui của mẹ là mỗi cuối tuần các con cháu tụ họp về đông đủ chở mẹ đi chợ về nấu ăn cho cả nhà. Thỉnh thoảng còn hứng, tôi cũng đàn cho mẹ nghe, để vẫn cảm nhận được ánh mắt mẹ xa xăm nhớ về Hưng Yên, nơi mẹ ra đi khi mới bước vào lứa tuổi trăng tròn, nhớ về Saigon nơi mẹ gặp ba và sinh cho ba 11 đứa con vừa trai vừa gái, nhớ về khoảng thời gian hạnh phúc êm đềm khi ba còn sống.

Những lúc đó tôi thấm thía 2 câu thơ của Trần Trung Ðạo: “Ví mà tôi đổi thời gian được, đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười”. Vào những dịp lễ lớn đưa mẹ đi chùa, tôi biết mẹ luôn hồi tưởng đến ngôi chùa Giác Ngạn, nơi mà chiều chiều chúng tôi đến tụng kinh cầu siêu cho ba và cho 2 người anh đã khuất trong cuộc chiến tương tàn. Trong ánh chiều dần buông, cảnh chùa vắng lặng và tiếng chuông mõ trầm buồn, lời khấn nguyện của chúng tôi luôn hòa trong âm thanh nức nở của mẹ. Và rồi cũng đến ngày mẹ ra đi,  ra đi trong mãn nguyện nhìn các con cháu yêu thương hòa thuận, hạnh phúc an vui, quây quần đông đủ tiễn mẹ phút cuối cùng.  Mẹ mất rồi, mỗi dịp lễ Vu Lan phát bông cài áo tôi đều đến chùa trễ chỉ bởi vì tôi không muốn cài hoa hồng trắng..  Trong tôi mẹ lúc nào cũng còn đó, với nụ cười và ánh mắt bao dung, dù tôi biết rằng mẹ cũng rất vui được về lại với bố.

Dạo sau này khi cuộc sống tạm gọi là đầy đủ, tôi không cảm thấy muốn viết gì nữa hết.  Hình như tôi chỉ viết được những khi tôi thiếu thốn một cái gì đó. Lúc còn ở VN tôi thiếu thốn vật chất, còn khi mới qua Mỹ thì tôi thiếu thốn tình bạn, tình quê hương. Tôi thường chia sẻ với chồng con mọi ưu tư và suy nghĩ của mình. Thỉnh thoảng xem được một cuốn phim, một vở kịch hay, đọc được một bài thơ, một cuốn sách tiếng Việt gợi cảm hứng, những lúc đó tôi cũng dịch lại cho chồng con tôi nghe nhưng bởi vì không cùng ngôn ngữ cho nên cả 2 người đều không thể nào cảm nhận được những lời lẽ thâm thúy, những câu chọc cười ý nhị, những ý nghĩa sâu sắc của ngôn ngữ VN.  Chỉ những lúc đó tôi mới viết được, bởi vì tôi cảm thấy mình như vẫn thiếu một cái gì đó, có lẽ là thiếu sự đồng cảm trong ngôn ngữ.  Nhưng cũng như bao lần trước, viết chỉ để một mình tôi đọc, viết để giải tỏa tâm tư, và viết xong rồi tôi lại xóa.

Vậy mà hôm trước một cuốn phim Mỹ (đoạt giải Oscar) đã thúc đẩy tôi phải viết. Chỉ với 10 phút cuối cùng trong phim mà cảm xúc trong tôi đã ngập tràn ra giấy mực. Hiện tại có thể nói tôi không cảm thấy thiếu thốn gì, cả về tình cảm lẫn vật chất, lại có chồng cũng chia sẻ với mình những suy nghĩ về cuốn phim, tôi tự hỏi tại sao tôi lại có thể viết. Phải chăng qua cuốn phim, một kỷ niệm xưa cũ nào đó đã thấp thoáng hiện về trong ký ức, cho dù kỷ niệm đó đã bị chính tôi chôn vùi trong dĩ vãng 26 năm qua kể từ ngày tôi bước chân lên phi cơ bỏ lại sau lưng mọi hình xưa bóng cũ?.

Nhưng mà thôi, dầu sao cũng “…đã hết rồi một thời dĩ vãng…”

Thái An – KLC

SHARE

NO COMMENTS

LEAVE A REPLY