Chị Yến

Lời giới thiệu: Nhà văn Kinh Dương Vương tên thật là Nguyễn Tuấn Khanh, sinh năm 1941. Ông là người đa tài, ngoài viết văn, ông còn là họa sĩ Rừng, và là nhà thơ Dung Nham. Ông hiện định cư ở Mỹ.

Kinh Dương Vương là một nhà văn đáng kể của Miền Nam trước năm 1975, tác phẩm của ông đã đăng trên các tạp chí văn chương như Văn, Vấn Đề… Sau 1975, trên Văn Học, Hợp Lưu, Văn và những diễn đàn văn học trên mạng.

chiyen kinhdv 01

Truyện của Kinh Dương Vương thường khốc liệt, đau đớn và ám ảnh, ông đẩy đến tận cùng sự vô nghĩa của hoàn cảnh con người trong chiến tranh, như truyện ngắn “Chị Yến” tiêu biểu dưới đây. Thận Nhiên.

 

Chị Yến

(Kính tặng Thầy Hà Cẩm Tâm)

Thời Pháp thuộc Liên Bang Ðông Dương, cha tôi là công chức ngân khố làm việc ở Nam Vang, thủ đô Cao Miên.Tuy làm việc cho Pháp,ông có cảm tình với Việt Minh. Mỗi sáng trước khi đi làm, ông và anh cả tôi vào buồng, đóng kín cửa hát quốc ca, chào cờ đỏ sao vàng. Bị mật thám Pháp theo dõi, biết trước tình thế, nhân lúc có các vụ Cáp Duồn của người Cao Miên, ông cho mẹ và hai anh em tôi – em gái và tôi – về tá túc nhà ông bà ngoại ở làng Tịnh Thới, huyện Cao Lãnh tỉnh Sa Ðéc – nay là Ðồng Tháp.

Ông bị Pháp bắt . Nhờ hiệp định Sơ Bộ 6/3, ký giữa Việt Minh và Pháp, có điều khoản trao trả tù chính trị,ông được thả, nhưng phải trở về nguyên quán tỉnh Phú Thọ, Tonkin, (Bắc Việt Nam).
Trên chuyến tàu lửa Xuyên Việt từ Nam Vang về Tonkin, khi tàu ghé ga Sài Gòn, Cochinchine (Nam Việt Nam) ông trốn ở lại, rồi tìm đường về Cao Lãnh với mẹ con tôi. Cao Lãnh lúc ấy còn là vùng thuộc Pháp,Việt Minh gọi là vùng tạm chiếm.

Cha tôi là người Bắc. Lúc ấy, để chia rẽ Bắc – Trung – Nam, Pháp vận động phong trào “bài Bắc”, người Nam nghe ai nói giọng Bắc họ đánh, nên ông không dám hé môi. Muốn mua thức ăn nước uống, ông chỉ ra dấu, như người câm. Ông tìm được đường về với vợ con .

Vẫn giữ tinh thần chống Pháp, ông đưa gia đình vào sống trong vùng tự do – vùng kháng chiến – lúc ấy là Ðồng Tháp Mười, thuộc Khu 9 – Long Châu Sa, tức Vĩnh Long, Châu Ðốc, Sa Ðéc. Gia tài của một gia đình hai vợ chồng ba đứa con chỉ chất đầy một chiếc xuồng. Quan trọng nhất là gạo và mấy lít muối hột. Vào Ðồng Tháp Mười, gia đình tôi ghé lại xã Ba Sao. Nhờ một người hảo tâm giúp đỡ, cha tôi cất một vuông nhà bên bờ kinh xáng, nửa trên bờ nửa dưới nước, cột kèo bằng tre, lợp đưng – một loại cỏ lác phơi khô – làm nơi trú ngụ và mở quán bán thức ăn sinh sống. Quán có tên là “Ðoàn Kết”, cha tôi có hỗn danh là ông Ðoàn Kết. Quán rất nổi tiếng. Cán bộ Khu 9 đi công tác qua Ba Sao đường sông, đường bộ đều ghé quán ăn uống, nghỉ ngơi. Những cán bộ là trí thức thành thị thích gặp và nói chuyện với cha tôi – ông phán chống Tây – trong tinh thần đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu. Chính trên một nền nhà này, cha tôi bốn lần cất lại nhà vì bị quân đội Pháp và lính Việt commando đi ruồng đốt và bom đánh sập. Khi căn nhà cuối cùng bị máy bay bắn cháy, cha tôi không đủ can đảm cất lần thứ năm nữa, ông mua một chiếc ghe có mui sống đời trôi nổi trên kinh rạch. Ba Sao, Mỹ Quí, Mỹ An, Thiên Hộ Dương, Ðốc Binh Kiều… Ông sống với bác Bằng -một ông già, trước là người phụ bán quán ăn – quyết tâm theo kháng chiến đến cùng. Gần đến ngày Tổng phản công, máy bay Pháp bắn phá dữ dội. Mẹ tôi, sau nhiều lần cãi vã và bị cha tôi mắng “liếm gót giày thực dân ăn bơ thừa sữa cặn”, bà không chịu nổi cảnh máy bay bắn sớm bắn chiều, rồi đến cả đêm – hồi ấy gọi là “giờ độc lập”- bà đưa chúng tôi ra vùng tạm chiếm ở Cao Lãnh. Lại cũng một chiếc xuồng nhỏ, chờ đêm đến, kín đáo lặng lẽ ra đi trên sông…Chúng tôi bị du kích chặn lại, đòi bắn thả trôi sông. Mẹ tôi năn nỉ, họ để cho đi, nhưng giữ lại gạo và ít thức ăn, một con gà mái đẻ, bảo không được đem tiếp tế cho giặc.

Ba Sao là một xã nhỏ, đường giao thông chủ yếu là con kinh xáng đào thông ra sông Tiền Giang – có lẽ là để rửa phèn. Trên bộ là con đường mòn đi theo bờ kinh rộng vài thước, hai bên lề cỏ mọc, mưa xuống đất nhão thành bùn. Ngôi chợ có nhà lồng lợp ngói xi măng, nhưng cuối cùng, sau nhiều lần bị máy bay đánh phá, chỉ còn trơ lại mấy cây cột cháy đen. Mé kinh có cây cầu gỗ bắc xa ra khỏi bờ làm bến cho tàu nhỏ, ghe thuyền đậu. Nước kinh nhiều phèn trong leo lẻo, áo quần giặt lâu ngày đóng vàng. Cá chốt dày đặc. Bỏ xuống một chút đồ ăn chúng bu lại trồi lên khỏi mặt nước. Cá chốt có ba sọc đen, nhỏ con gọi là cá chốt chuột, không ai ăn, chỉ để làm phân trồng cây thuốc lá. Vào mùa cá dại, khi độ phèn cao, cá không sống nổi, chết nổi lềnh bềnh đủ thứ cá. Cá rô, cá trê, cá lóc, cá trèn, cá chạch lấu… tha hồ vớt, ăn không xuể, mẹ tôi tiếc đem làm khô. Ðêm trong, cả bầu trời trăng sao in trong lòng kinh. Tôi còn thuộc bài hát “Con kinh xanh xanh những chiều êm ả nước trôi . . .” Tôi hay ra đứng bên bờ kinh ngắm bầu trời trong nước. Mỗi khi có ghe thương hồ đi qua với giọng hò lơ đối đáp. Bầu trời tan ra, nước rẽ sau ghe để lại một vệt sáng dài.

Xã Ba Sao có một người đàn bà điên người Bắc. Bà xé hết áo quần, trần truồng đi từ đầu trên xuống xóm dưới với dáng đi rất lạ, bước dài, hai tay vung vẩy. Với mái tóc húi cua, răng nhuộm đen, bà nói lảm nhảm, khi cười, khi khóc, la hét suốt ngày. Bà là người đàn bà đầu tiên tôi thấy trong tư thế khỏa thân. Ðối với tôi, cậu bé tám tuổi là một sự kiện gây nhiều ấn tượng. Tôi tò mò quan sát cặp vú xệ, núm đen, bộ phận sinh dục lông lơ thơ của bà, hoàn toàn không xúc động, nếu không muốn nói là có một cảm giác rờn rợn.

 chiyen kinhdv 01

Mẹ đấtHỌA SĨ RỪNG

Chồng bà là một cán bộ thông tin xã. Tôi không biết tên ông, chỉ nghe gọi là “ông cán bộ”. Ông khoảng năm mươi tuổi, tóc hoa râm hớt cao, răng nhuộm đen. Trước đây là phu đồn điền cao su Pháp. Ông mặc áo bà ba vải trắng hiệu Xe lửa đã nhuộm bùn non. Lúc nào đến quán cha tôi ông cũng đội chiếc mũ lưỡi trai bộ đội, mang sắc cốt màu vàng ka ki đã cũ. Một hôm ông đến đúng lúc cha tôi đang xẻ bưởi. Trái bưởi to bằng đầu tôi, ông Bảy hàng xóm vừa mới cho. Trong khi cha tôi tách múi bưởi, ông hỏi xin chiếc vỏ. Cha tôi hỏi để làm gì, ông nói ông ăn. Cha tôi hơi ngạc nhiên, nhưng đồng ý. Ông bẻ vỏ bưởi, cắn từng miếng, nhai nuốt ngon lành, khen “ngon đáo để”. Ông kể rằng tuổi thơ nhà nghèo, ông không được ăn bưởi. Ông thèm. Khi có ai xẻ bưởi ông xin vỏ để ăn. Lâu dần, vỏ bưởi trở thành một món ăn ngon đối với ông. Tôi nhìn ông ăn bằng cặp mắt hiếu kỳ, có hơi thương hại. Ông vừa nhai, nhìn lại tôi cười hồn nhiên. Loáng cái ông đã ăn sạch chiếc vỏ bưởi to. Cha tôi kín đáo nhìn ông, cố lấy vẻ thản nhiên giấu nỗi cảm động. Cha tôi mời ông ăn bưởi, ông vui vẻ ăn, khen “ngon quá, cực ngon”. Tôi để ý thấy ông không nhai, chỉ cho bưởi vào miệng, hình như trong cổ họng có một sức hút, bưởi trôi tuột vào ngay. “Ngon quá” thì tôi có nghe, nhưng “cực ngon” thì mới nghe lần đầu. Cha tôi và tôi cũng ăn, nhưng tôi thấy cha tôi chỉ ăn lấy lệ, cố tình nhường cho ông. Còn tôi nhìn ông ăn cũng cảm thấy ngon rồi. Ông bỏ hột bưởi xuống bàn nói “làm mồi câu cá tốt lắm đây.” Tôi học ông thêm một chuyện. Ông đã ăn hết luôn trái bưởi. Ông xin một tách trà. Ông uống nhanh, đứng lên vỗ bụng nói “no quá, lâu lắm mới được chén một bữa.” Ông cám ơn rồi ra về. Tôi nhìn theo ông, dáng ông đi chậm chạp, nặng nề. Lúc ấy tôi mới nhớ ra, ông đã ăn tiêu tan một trò chơi của tôi. Tôi hay lấy vỏ bưởi bóp với vôi, vắt lấy nước để đông lại như thạch, chơi trò mua bán.

Ông có một cô con gái khoảng mười lăm, mười sáu tuổi, tôi gọi là chị Yến. Chị ở một mình làm ruộng trong đồng xa, thỉnh thoảng mới bơi xuồng ra xã bán vài con vịt chị nuôi, lấy tiền đi chợ. Mỗi lần như thế, chị ghé quán cho tôi vài mẩu kẹo đậu phọng làm bằng đường đen. Chị rất thương tôi, tôi cũng thương chị. Chị Yến rất đẹp. Thân hình nảy nở cân đối. Mặt trái xoan trắng hồng, môi đỏ thắm với hàm răng trắng đều, khi chị cười mắt sáng lấp lánh, cả khuôn mặt chị sáng lên rạng rỡ.

Tóc chị hơi hoe vàng – chắc vì dang nắng nhiều – Cha tôi có lần nói đùa xin bố chị cho chị về làm con dâu. Anh cả tôi lớn hơn chị vài tuổi, cùng tên với chị. Chị cười thẹn, đỏ mặt bỏ chạy. Tôi bỗng nhiên cảm thấy buồn buồn.

Chị Yến ở một mình trong căn chòi mà chung quanh chị phải cách xa hàng chục cây số mới có làng xóm, con người. Nhiều ngày, tháng, chị không có ai để nói tiếng người, ngoài vài lời với mấy con vịt chị nuôi. Căn chòi của chị Yến tôi chưa lần nào đến, nhưng tôi hình dung ra được, vì có lần tôi ở với ông ngoại cũng làm ruộng trong đồng xa như chị. Căn chòi đươc dựng trên một mô đất – thường là gò mối – cao hơn mặt nước chừng bốn năm tấc, bằng mấy thanh tre, lợp đưng. Nhìn xa, căn chòi như nổi trên mặt nước. Trong chòi kê một chiếc giường tre ọp ẹp. Bếp là ba ông táo bằng đất, dụng cụ nấu ăn là vài chiếc nồi đất nung để nấu cơm, kho cá, nấu canh. Phương tiện đi lại duy nhất là chiếc xuồng nhỏ. Nước cạn chống bằng sào, nước sâu bơi bằng dầm. Ðồng Tháp Mười rộng mênh mông, mùa nước trông như biển. Ðứng từ trong chòi hay trên xuồng, nhìn ra chung quanh, thấy chân trời vây như một chiếc chén úp. Con người sống heo hút, biệt lập chìm lỉm trong bao la đất trời. Chị Yến sống như thế từ năm này qua năm khác, làm ruộng nuôi gia đình.

Chị Yến còn một đứa em trai, bằng tuổi tôi. Tôi không biết nó tên gì, chỉ nghe mọi người gọi nó là “thằng Cu”. Có lẽ thằng Cu là người bạn đầu tiên của tôi ở Ba Sao. Ðầu nó cũng húi cua như mẹ nó – bà điên. Quanh năm suốt tháng nó chỉ mặc một cái áo hở rốn, không thể gọi màu gì, vá miếng này chồng lên miếng khác. Chưa bao giờ tôi thấy nó mặc quần. Tôi hay chơi với nó và thương nó với một chút lòng thương hại Tôi không biết nhà nó ở đâu, cũng không đi tìm, chỉ gặp khi nó đến nhà tôi hoặc lang thang ngoài đường. Nó là một đứa trẻ cô độc và cả cô đơn nhất thế giới, đối với tôi. Mẹ thì điên, chị làm ruộng xa, cha cán bộ đi công tác liên miên. Tôi không biết nó lấy gì ăn mà vẫn sống được. Thỉnh thoảng tôi chia với nó miếng kẹo, khúc mía, trái ổi. Khi nó đến mà tôi bận phụ cha tiếp khách, tôi thấy nó ngồi bẹp xuống đất mân mê cu nó, như một trò giải trí buồn tẻ. Một hôm nó rủ tôi ra bờ kinh chơi trò ném thia lia. Sau khi ném mỏi tay, nó bày tôi chơi trò đá cu. Nó đứng hơi ưỡn người, lộn cu nó ra một cách thành thạo – tôi nghĩ nó đã làm nhiều lần -tôi thấy đầu cu nó đỏ hồng, bóng loáng. Nó bảo tôi làm. Tôi cố gắng, nhưng đau quá không chịu nổi. Tôi chưa làm như vậy bao giờ. Cuối cùng nó nói “thôi cũng được” và bước đến gần tôi. Nó quẹt cu nó vào cu tôi. Cu nó cứng, cu tôi mềm.Tôi cảm thấy nhột nhột. Lần đầu tiên một cảm giác lạ rân rân thể xác tôi tiếp nhận.

Một buổi sáng sớm nước kinh lớn, sóng đánh dập dồn. Tôi chuẩn bị chống cửa quán lên đón khách, tôi nghe nhốn nháo tiếng những người đi chợ cột ghe xuồng vào cầu gỗ la lên “thằng chõng, thằng chõng, bà con ơi!” Người ta đổ đến xem. Tôi len lỏi ra tận đầu cầu để nhìn cho rõ. Thằng chõng là xác chết sình căng tròn của một cô gái. Cô còn mặc một chiếc áo bà ba màu đen, nhưng không có quần. Nước lớn, cái xác sình trôi từ trong đồng ra kinh để tìm đường ra sông cái. Thằng chõng kẹt vào giữa hai cột cầu, sóng đánh dập dềnh lên xuống. Người ta lật ngửa thằng chõng lại, nhiều tiếng người la lên cùng lúc: “Con Yến! con Yến!” “Trời ơi!Con ông cán bộ!” Tôi nhìn kỹ lại thằng chõng, thấy lộ dần ra dáng dấp chị Yến. Tôi ôm mặt khóc rưng rức, bỏ chạy về nhà. Tôi đi tìm thằng Cu, kéo nó ra coi thằng chõng là chị nó, nhưng nó không chịu đi. Nó chỉ đứng xa xa nhìn, mặt nó trơ ra không cảm xúc, nhưng nét mặt nó có một vẻ gì khác lạ, như sự cố gắng chịu đựng. Tôi bỗng thấy nó lớn lên, mặc dù nó vẫn ở truồng. Rồi nó ngoe ngoảy bỏ đi một cách dứt khoát. Tôi muốn chạy theo, nhưng chân tôi không nhúc nhích. Tôi đứng tại chỗ nhìn cái đít tóp không có thịt của nó xa dần.

Giữa lúc người ta đang xôn xao bàn tính vớt thằng chõng lên, bỗng nghe một tiếng hét khản đặc trộn với tiếng khóc vang lên. Từ xa, bà điên trần truồng từ trên bờ lao xuống chiếc cầu gỗ. Người ta dạt ra nhường chỗ cho bà. Cảnh tượng một người đàn bà đầu trọc, trần truồng đứng nhìn chăm chăm vào thằng chõng với đôi mắt khô thất thần, miệng móm, lơ thơ mấy chiếc răng, môi run run phát ra những tiếng ư ử lạ tai, không biết đó có phải là tiếng khóc của một người mẹ điên khóc con hay không? Rồi bất ngờ, bà nhảy xuống nước, ôm chặt thằng chõng, khó khăn lắm người ta mới gỡ được bà ra. Cha tôi, ông cán bộ và bà con vớt xác chị Yến lên, bó chiếu đem chôn trong gò mả xã Ba Sao.

Khi mọi người đã ra về rồi thằng Cu rủ tôi thăm mả chị nó. Khi đến nơi, chúng tôi thấy bà điên đang ôm nấm mộ mới đất còn ướt, mình mẩy lấm lem. Nó đứng chết trân nhìn cảnh tượng người đàn bà điên là mẹ nó với hai con mắt ráo hoảnh, trong khi người đàn bà điên vật vã, đầu gục gặc, tay vỗ lên nấm mồ đất ướt đồm độp. Hu hu! Hu hu! Bà đã khóc được thành tiếng. “Hu hu”, đã rõ là tiếng khóc của một con người! Bỗng thằng Cu quay lại ôm chặt tôi, úp mặt vào vai tôi khóc rấm rức. Tiếng khóc của nó rất lạ, như một đoạn nhạc có âm điệu đứt quãng, lập đi lập lại. Những tiếng hừ hứ… hừ hứ không thoát ra khỏi cổ họng nó làm cho ruột gan tôi cuộn lên. Bất ngờ, nó xô tôi ra, quay lại, hai tay chắp sau chiếc mông tóp, thong thả bước đi. Tôi nhìn theo nó, thấy nó lớn hẳn lên, không còn là “Thằng Cu” nữa . Bà điên khóc một hồi, bỏ đi. Còn tôi, đứng nhìn nấm mộ, nghĩ rằng từ nay tôi không bao giờ còn thấy chị Yến nữa, chị không về vuốt tóc tôi, cho tôi kẹo nữa. Người ta đã hãm hiếp chị, giết chị, thả xác chị xuống nước. Nghĩ đến cảnh ấy, bụng tôi đau thắt lại.

“Chị Yến . . ơ. . . ơi! Chị Yến ơ . . .ơ . . .ơ . . .” Tôi gào lên. Tôi muốn gào lên cho trời nghe, đất nghe. Giọng tôi âm vang trong khu gò mả đã đầy bóng tối. Tôi gào lên, nước mắt chảy ràn rụa . “Chị Yến ơ . . .ơ . . .ơ . . . “

KDV

 

------------------------------------------

Những bài trên báo Trẻ phát hành Thứ Năm ngày 30 tháng 11 năm 2016

(xin lấy báo tại các thân chủ đăng trên báo Trẻ)

  • Các đời HLV đội banh Mỹ Quốc (Thể thao) Trần Trí Dũng
  • Tin thể thao (Thể thao)
  • Tàn mộng (Truyện ngắn) Cẩm Giang
  • Chính trị trên bàn tiệc mùa Lễ (Kiến thức trẻ) Đinh Yên Thảo
  • The Head and The Heart (Âm nhạc) Nhã Vy
  • Hy vọng cho ngày mai
  • Cám ơn! (Duyên sài gòn) Du Uyên
  • Nhà độc tài bịp bợm (Ghi nhận trong tuần) Vũ Hiến
  • Lịch sự nơi công cộng (Giao tiếp) Minh Hải
  • Khi trở lại nhà (Tạp ghi) Trần Mộng Tú
  • Whiskey, brandy, vodka, gin (Kiến thức phổ thông) Phượng Nghi
  • Tưởng nhớ gã Beatles trầm lặng (Bên tách cà phê) Tim Nguyễn
  • Yến sào (Chuyện trò thấy thuốc) Nguyễn Ý Đức
  • Sử dụng bằng lái xe (An toàn giao thông)
  • Thưở đó chúng mình (Tạp ghi) Sean Bảo
  • Đường hóa học (Thế giới của dế mèn) Trần Lý Lê
  • Thơ phạm cao hoàng (Thơ)
  • Tưởng niệm nhạc sĩ Anh Bằng Người cuối sân ga (Tạp ghi) Trịnh Thanh Thủy
  • Có nên mua bảo hiểm sức khỏe qua các đại lý ? (Bạn có biết) Dạ Thảo
  • Cơm chiên Dương Châu kiểu Bạc Liêu (Tạp ghi) Tạ Phong Tần
  • Lệ phí đơn của Sở Di Trú tăng trong Mùa Lễ (Di trú) Lê Minh Hải
  • Cơn sốt chim cút Sài Gòn (Tạp ghi) Trang Nguyên
  • Mua hàng online mùa lễ (Bạn có biết) Hoàng Hương
  • Quà tặng mùa lễ (Sổ tay khách hàng) Hạnh Việt
  • Tình bạn thời đi học (Những bông hoa cuộc sống) Như Sao
  • Sơn máy và sơn lăn - sơn dầu và sơn nước (Bạn có biết) Xe-Ba-Gác Handyman
  • Coi chừng ứng dụng giả (Fake APP) (Bạn có biết) Hạnh Việt
  • Đi hát karaoke ở Hà Nội (Facebook có gì ngộ) Daniel Văn
  • Spa tại gia (Trang phụ nữ) Sông Hương
  • Phần chìm của tảng băng (Để gió cuốn đi) Hải-Vân
  • An toàn thực phẩm trong tiệm ăn (phần 2) (Phỏng vấn) Hương Võ
  • Cuba của Fidel (Tạp ghi) Mạnh Kim
  • Minimalism Phong cách tối giản (Thời trang) Điệu Cô Nương
  • Thế giới qua ống kính
  • Một vòng chợ hoa nước Mỹ (Phóng sự) Ngọc Linh
  • Cử tri viện Electoral College (Tạp ghi) Ianbui
  • An toàn nhà cửa khi du lịch mùa lễ (Bạn có biết) Quỳnh Như
  • Mr. Thất bại (Chuyện không đâu) Hồng Nguyên Hoàng
  • Mỗi tuần 1 con số
  • Đi bộ 9,000km gây quỹ giúp đỡ trẻ lang thang (Thế giới quanh ta) Dương Hùng
  • Bàn tiệc mùa Thu (Cái nhà của ta) Thiên Hương
  • Fantastic Beasts and Where to Find Them (Thế giới điện ảnh) Movie Phan
  • Olalacare (Chuyện Khó Tin Có Nhưng Thật)
  • Nên làm gì với vé máy bay sau chuyến bay? (Ứng dụng thường ngày) P324530
  • Những người đàn bà tôi gặp trên cầu (Truyện ngắn) Nguyễn Quang Tấn
  • Tìm em bé H.mong (Tạp ghi) Uyển Ca
  • Diễn hành lễ Tạ Ơn (Vui lạ khắp nơi)
  • Ipad - người bạn đường của tôi (Góc nhiếp anh) Andy Nguyễn
  • Thảo Trường: Bỡn cợt với cả những điều nghiêm chỉnh (Tài liệu văn học) Nguyễn & Bạn Hữu
  • Xe taxi tự động (Sản phẩm mới) Bảo Sơn
  • “Ô hô! Fidel Castro!” (Phiếm) Đoàn Xuân Thu
  • Đêm havana & ngày hà nội (Sổ tay thường dân) Tưởng Năng Tiến
  • Những thảo dược phụ trợ không nên dùng (Y tế và đời sống) Triệu Minh
  • Đồng chí Vi Quốc Thanh trong viện trợ Việt Nam (Trong hầm rượu) Trần Vũ
  • Người tốt (Câu lạc bộ tiếu lâm) N/A
  • El Nino và Canh Cua Rau Đay (Chuyện đời thường) Huy Phương
  • Vé số dạo (Tạp ghi) Nguyễn Sinh
  • Bánh xèo bánh chuối chiên (Tạp ghi) Hỷ Long
  • Ác mộng đêm Halloween (Chuyện vụ án) Nam Nhật
Facebook Comments
SHARE