Báo thù

RIVANNICHOP
Nguyễn Hùng Vỹ dịch

Khi mùa đi săn vịt trời bắt đầu là tôi nhớ ngay tới anh bạn thân, một thợ săn cuồng tín. Trước đây chúng tôi đã có hơn một đêm quần thảo trên hồ ZABOLOTNIV  vì thế tôi liền đến nhà anh rủ đi săn đêm.

Thật ngạc nhiên khi thấy anh từ chối.

– Chả nhẽ ông đã rời bỏ môn thể thao săn bắn?

– Ðâu phải thể thao mà là sự giết chóc man rợ kiểu trung cổ. Bạn tôi cự lại. Anh ta biểu đạt bằng giọng điệu mỉa mai cay đắng đến nỗi chính tôi cũng không thể hiểu nổi và như thế chừng như chưa đủ, anh ta lập tức còn bồi thêm:

– Thưa Ông bạn kính mến! Ông vẫn cho đấy là môn thể thao và cho đến nay người đời vẫn gọi như vậy, nhưng giờ thì tôi lại nghĩ khác. Nếu ông muốn Tôi sẽ kể ông nghe một chuyện mà thậm chí ngay cả vợ tôi tôi vẫn còn chưa cho cô ấy biết. Có thể sau câu chuyện này, ông sẽ không còn muốn đi săn vịt trời nữa và biết đâu sở thích đó được thay thế bằng môn bắn súng ngắm bia. Ðấy như thế mới gọi là thể thao chứ!

Chuyện xảy ra vào giữa mùa hè. Những vạt cỏ bị héo trụi dường như là hậu quả của một sự tàn phá kinh khủng vừa xảy ra, trải dài ngút mắt đến tận chân trời. Trong khung cảnh như vậy, chỉ có mình tôi trên sa mạc, trông tôi giống như là hiện thân của người cổ Scythe (một dân tộc cổ đang sống ở miền Nam nước Nga) trong sự hoang vắng, đơn độc giữa sa mạc bao la.

Sự thực thì trước đó sa mạc không hẳn là như vậy. Từ hàng nghìn thế kỷ, cỏ đã không mọc ở đây, con người cũng chưa bao giờ sống ở đó. Dù thế, tôi không cảm thấy đơn độc và ngược lại còn bị cuốn hút bởi cái đẹp ngoại lai của đồng cỏ Karakoume với những trận bão cát tràn qua gợi nhớ những đàn lạc đà đói nước tung vó cuốn cát đi để rồi sau đó biến mất trong sự nóng bỏng hư vô của sa mạc. Những cây thân gai nằm rải rác phía xa xa, trên cát hầu như chỉ còn sót lại những cây cọ. Qua radio liên lạc được với Nebit-Dague và tôi biết những người công nhân ở Turkme’nes sẽ phải đến đây để chuẩn bị đón một nhóm chuyên gia khai thác dầu lửa. Chính vì thế mà tôi có thời gian đi săn.

bao-thu
Thắm Nguyễn

Trong thâm tâm, thực tình mà nói tôi cũng không khoái gì môn thể thao này cho dù tôi chưa hề bỏ một mùa săn vịt trời nào. Lòng trắc ẩn và sự thương hại luôn làm cho tâm trí tôi không yên mỗi khi nhặt một con vịt trời bị bắn hạ hoặc xác con thỏ còn nóng ấm lúc mùa đông. Tôi phủi vết máu dính dưới chân đứng lặng trên bùn hoặc trên cỏ, người chùm xuống như là cố che giấu vết nhơ trước lương tâm trong sạch của tôi rồi hình dung một cách ngây thơ như con trẻ về những con thỏ con, con vịt đơn côi sẽ không bao giờ còn được gặp người bạn đời của mình trong tổ ấm. Thực vậy, ngoại trừ là một thợ săn ra, tôi cũng như những con thú bị sát hại, tôi thương xót cho những con vật mồ côi đáng thương.

Công tâm mà nói không có gì dễ bằng việc đi săn ở trên sa mạc. Suy xét này, có thể là tôi  đã lầm nhưng rõ ràng ở đây các loài động vật rất thờ ơ trong việc tự bảo vệ mình. Ðiều này được minh chứng là những tổ chim, những con linh dương trên đồng cỏ đi lại đơn độc không bầy đàn. Những con thằn lằn thờ ơ một cách vô tư về xuất xứ cội nguồn, dòng tộc. Thậm chí ngay cả những con vịt di trú đẻ trứng một cách cẩu thả trong cát rồi vội vã bay đi để sa mạc phải hứng chịu làm cái việc bất đắc dĩ là nuôi dưỡng, che chở cho đàn con của chúng.

Tôi quan sát những con vật nhỏ đáng thương, những con chim non lang thang không đàn mà lòng tràn đầy cảm kích, còn những con lớn hơn tôi tuyệt nhiên vô cảm, bình thản lặng lẽ chĩa súng vào chúng.

Một ngày đẹp trời, tôi phát hiện thấy một con đại bàng trên thảo nguyên. Nó đậu trên mỏm núi nhỏ, cổ giương ra khiêu khích nhìn chỗ ở của tôi rồi vỗ cánh bay thẳng lên trời, liệng vòng ngay trên đầu tôi. Tôi chẳng có lý do chính đáng nào để giết nó, nhưng rồi tự nhiên tôi nhớ lúc ở nhà ra đi vợ tôi khẩn khoản dặn tôi mang về cho cô ấy một kỷ vật của sa mạc để làm kỷ niệm.

Tôi quan sát con chim có vẻ khờ khạo, cho dù nó là chúa tể của các loài chim. Nó bay bay liệng liệng, chao chao trên đầu  tôi, nhìn tôi bằng ánh mắt dữ tợn. Ðôi mắt này đã gợi tôi nhớ lại ánh mắt căm thù của con trăn mà tôi mới giết chết ở đằng sau núi – rằng cái bản năng tham lam ở những người dân du mục đã đánh thức sa mạc hoang dã này và nếu như còn một chút bản năng của lòng mẫu tử thì việc đã khác… nhưng tôi lại giương súng lên mà bóp cò.

Con đại bàng rơi xuống, hai cánh của nó vẫn chới với lên bầu trời như nói lời vĩnh biệt. Nó bị triệt hạ ngay cạnh cái lều của tôi và trút ra một tiếng kêu thống thiết. Tiếng kêu ấy không giống tiếng kêu thường thấy ở con đại bàng, nó giống như tiếng người mà chỉ là đàn ông mới có thể phát ra một thứ âm sắc như vậy. Tôi run rẩy không dám tiến lại gần con chim. Ðầu nó nghếch lên trên trời.

Chuyện đó xảy ra vào sáng sớm. Còn buổi chiều, trước bữa ăn tối, khi tôi đang mơ màng thiu thiu ngủ trong lều bạt nóng như thiêu như đốt. Bỗng một tiếng động dữ dội vang lên từ bên ngoài. Tôi bật dậy vùng chạy ra khỏi chỗ nằm. Tôi nghĩ chắc lại có  máy bay đỗ xuống để mang đồ ăn thức uống tiếp tế cho công nhân thôi. Tôi chạy ra ngoài nhưng rồi giật lùi quay lại ngay: một con đại bàng to gấp 2 lần con đại bàng mà tôi đã bắn chết vừa liệng quay tròn trên đầu tôi cách chừng chục mét…vừa nhìn tôi, nó bay lên, bay xuống, đứng im xoay tròn như sợi chỉ xe. Giờ thì  tôi đã hiểu buổi sáng tôi đã bắn chết con chim mái, tôi đã giết chết con chim vợ, con chim mẹ và nó con chim trống góa bụa đã đến để báo thù. Lẽ đương nhiên tôi cần phải hành động để tự bảo vệ mình và có lẽ vì lý do đó mà tôi lại phạm thêm một tội ác nữa. Con đại bàng sà xuống định cướp cái lều  bạt của tôi và tuyên chiến ngay với tôi. Tôi lẩn vào cái lều bạt lấy khẩu súng và chạy ra ngoài. Ngay lúc đó nó hạ cánh đánh rầm xuống đất, cắp xác con đại bàng mái ì ạch bay lên ngay. Nó bay là là trên sa mạc rồi đậu lên đỉnh núi, nơi mà trước đây một vài giờ con đại bàng mái- vợ của nó đã đậu. Tiếc thay con đại bàng đáng thương đã đến quá muộn: có thể vì phải bận chăm sóc lũ con hoặc phải đi kiếm mồi nuôi người bạn đời. Bóng nó  to đen, ủ rũ bất động, in đậm trên nền trời hồng đỏ, phủ trùm lên xác con đại bàng mái hai cánh vẫn còn đang giương ra.

Tôi trở về lều bạt của mình, cầm quyển sách trên tay nhưng không tài nào đọc nổi: Qua khe cửa đóng hở nổi lên, xuất hiện một cái bóng đen. Tôi trở dậy ra ngoài để khép nó lại nhưng nó bất động không nhúc nhích. Có thể sinh khí ở đây bây giờ đã làm cho nó trở nên khác lạ.

Và lần đầu tiên, tôi cảm thấy sự im lặng chết chóc của sa mạc. Chắc chắn tôi đã giết chết một cái gì đó rất cụ thể và sống động trong tôi, bởi vì đúng vào lúc này tôi mới nhận ra rằng xung quanh tôi không còn một cái gì hết ngay cả sợi cỏ, đọn cói, thậm chí xác một loài cây họ gai cũng không và những đụn cát chết chóc vun thành từng đống trải dài đến tận chân trời. Tôi đã giết chết sự sống trên sa mạc.

Ngay ngày hôm sau và những ngày kế theo con đại bàng vẫn đậu trên mỏm núi như là một nhân chứng sống về sự hối hận của lương tâm. Tôi tiến lại phía nó, có thể tôi vẫn chưa hiểu hết nỗi đau khổ mà nó đang gánh chịu, cho dù tôi hoàn toàn tin rằng nó sẽ không ăn món thịt được bảo quản có mùi thơm hấp dẫn mà tôi đã mang theo.

Ánh thép của khẩu súng làm gan bàn tay tôi nóng lên, tôi tiến lại gần nó thêm một chút nữa, con đại bàng bất động. Nó đã chết, tôi vất khẩu súng xuống chân núi, hấp tấp chạy ngược trở lại, đơn độc một cách hãi hùng.

Một năm sau, những tháp khoan dầu đầu tiên đã được dựng lên trên sa mạc. Tôi trở về nhà, được gặp người vợ thân yêu và cùng chia sẻ về sự đợi chờ quá lâu của nhau. Nhưng chẳng hiểu sao cũng từ lúc đó và cho đến tận bây giờ một nỗi sợ hãi lạ lùng luôn xâm chiếm trong lòng tôi. Và một lần vào lúc nửa đêm, tôi hốt hoảng thức dậy do linh cảm thấy một việc kinh hoàng sắp xảy ra. Tôi tiến lại giường ngủ của con tôi. Tôi thấy tiếng nó vẫn thở đều, qua khoảng tối, tôi ngắm nhìn khuôn mặt vợ tôi, rồi chợt liên tưởng tới cái dáng vút cong của con đại bàng đang ngả người lên xác của người bạn đời xấu số.

Tôi đánh thức vợ tôi dậy để được an ủi rằng vợ tôi vẫn bình yên…

Nén xúc động, bạn tôi nói tiếp:

– Và tất nhiên từ đó, tôi  không còn thiết tha, ngó ngàng đến việc đi săn nữa.

Nguyễn Hùng Vỹ dịch từ nguyên bản tiếng Pháp. Nhà xuất bản kiep DRIPRO)

SHARE

NO COMMENTS