Arirang – Linh hồn của người Đại Hàn

Những ai đã theo dõi giải Thế Vận Hội Mùa Đông tại PyeongChang, Nam Hàn, chắc hẳn đã được nghe nhiều lần bản nhạc dân ca Arirang. Nó được dùng làm bài nhạc nền giữa các trận đấu, hoặc khi TV tạm ngưng để chiếu quảng cáo. Bài Arirang thật ra có nhiều phiên bản khác nhau và một lịch sử khá ly kỳ.

arirang-linh-hon-cua-nguoi-dai-han3
Một đoàn vũ công Bắc Hàn trình diễn bài Arirang cho các quan lớn tại Bình Nhưỡng

Arirang không phải là một bản dân ca bình thường. Nói đúng hơn, Arirang là một thể loại dân ca khởi nguồn từ hơn sáu thế kỷ trước với một làn điệu đơn giản gồm có hai dòng nhạc và một điệp khúc: “Arirang, arirang, arariyo”. Chỉ vậy thôi, nhưng giai điệu và ca từ của bài nhạc này khi đi từ vùng này sang vùng khác đều được biến đổi để phù hợp với sinh hoạt dân gian của vùng đó. Thành ra cho tới nay có đến gần 4000 phiên bản Arirang khác nhau, và cái nào cũng là phiên bản “đúng” cả.

arirang-linh-hon-cua-nguoi-dai-han5
Nhà nhạc học Trần Quang Hải thuyết trình tại hội nghị quốc tế về Arirang ở Nam Hàn.

Ẩn chứa trong bài nhạc này là những khái niệm cốt lõi về tự do tư tưởng, tự do sáng tạo, và sự đồng cảm với nhân gian. Ai cũng có thể đặt lời cho bài nhạc để hát theo ý mình. Vì thế nên qua nhiều năm tháng càng ngày Arirang càng đa dạng và phong phú hơn. Ngày nay mặc dù Arirang đã trở thành biểu tượng âm nhạc chung cho người Ðại Hàn, nhưng người dân tại các vùng miền vẫn còn hát những phiên bản Arirang xưa do ông bà họ để lại, đồng thời họ vẫn tiếp nối với những phiên bản hiện đại hơn. Thêm vào đó, vô số nghệ sĩ, nhà khảo cứu, kịch tác gia, nhà làm phim v.v… vẫn còn tiếp tục nghiên cứu và phổ biến Arirang qua các phương tiện khác nhau.

Arirang bắt nguồn từ vùng Gangwon miền Trung nước Ðại Hàn. Khởi đầu nó là một điệu nhạc của nhà nông, hát trong lúc họ làm việc đồng áng như cày cấy, gặt lúa v.v… Ðiệu nhạc này vẫn còn được người dân nơi đây hát thường xuyên, nhờ vậy ta mới biết giai điệu cổ xưa ấy ra sao. Bài Arirang ở các khu vực xung quanh vùng đất này thường mang một âm điệu khá buồn bã, với những lời hát về tình yêu đôi lứa trắc trở.

arirang-linh-hon-cua-nguoi-dai-han2
Ca sĩ Kim Nam Ki, 80 tuổi, hát bài Arirang phiên bản gốc của Gangwon trong lễ khai mạc TVH Mùa Đông tại PyeongChang

Từ nơi khởi thủy đó bài Arirang được những người chở gỗ trên sông mang theo họ đến những bến bờ xa hơn, và lời bài hát cũng thay đổi theo. Arirang của những người này hay kể lể về kiếp sống lênh đênh của họ trên sông nước thay vì nói về nghề nông. Và rồi đi tới đâu Arirang tiếp tục biến đổi theo tới đó. Không những vậy, người ta còn ghép những làn điệu dân ca của xứ mình vào bài Arirang, biến nó thành một bài hát mới.

Ðiều này không khó hiểu vì đặc điểm nổi bật nhất của Arirang chính là tôn trọng sự tự do, phóng khoáng của con người, không bị ràng buộc bởi địa lý hay bất kỳ yếu tố nào khác. Thí dụ như ở vùng Milyan phía Ðông Nam nước Ðại Hàn, Arirang đã trở thành một bài hát ca tụng thiên nhiên và con người nơi đây, nổi tiếng là khoan hoà và dễ tính. Họ có thể hát Arirang khi làm việc ngoài đồng, hoặc trong các buổi liên hoan, hay để trai gái tỏ tình với nhau.

Ðến cuối thế kỷ thứ 19, các nhạc đoàn chuyên nghiệp bắt đầu hoà âm lại bài Arirang theo quy luật của nhạc Pháp, cho nó có vẻ bài bản hơn. Ðầu thế kỷ 20, nhờ các phương tiện truyền thông hiện đại như dĩa hát và radio, những phiên bản Arirang “chính thống” này được truyền bá rộng rãi đến người Ðại Hàn khắp nơi. Trong số những phiên bản ấy, bản được nhiều người biết đến nhất là bài được dùng trong bộ phim mang tên “Arirang”, ra năm 1926, đề cao tinh thần dân tộc của người Hàn trước sự xâm lăng của quân Nhật. Kể từ đấy, phiên bản này được xem như bài nhạc quốc hồn quốc tuý của người Ðại Hàn. Tất cả trẻ em Hàn đều phải học hát bài này từ mẫu giáo.

arirang-linh-hon-cua-nguoi-dai-han4
Ban nhạc BTS biểu diễn Arirang theo điệu K-Pop

Ngoài ra, các đoàn thể bảo tồn văn hoá luôn tiếp tục gìn giữ các phiên bản riêng của vùng mình ở, cho nên Arirang không những không bị mai một mà càng ngày càng phát triển sâu rộng hơn. Thậm chí, ngày nay hàng năm người Hàn còn tổ chức một lễ hội Arirang thật trang trọng. Tại đây các tiết mục xoay quanh bài Arirang được trình bày với sự tham dự của nhiều thành phần dân chúng già trẻ bé lớn, đến từ nhiều vùng miền khác nhau. Không những vậy, các nhà nghiên cứu dân nhạc khắp thế giới cũng đến đây để học hỏi thêm về thể nhạc Arirang. Một trong những người đã từng thuyết trình về đề tài Arirang là nhà dân-nhạc-học (ethno-musicologist) Trần Quang Hải, con nhà nhạc học cổ truyền Trần Văn Khê (anh nhạc sĩ Trần Văn Trạch).

Vào những thập niên đầu thế kỷ 20, những người di dân từ miền Trung và miền Nam của Ðại Hàn đã mang bài Arirang theo họ đến những vùng đất mới: Bắc Hàn, Trung Quốc, Nhật Bản, Nga, Mỹ, Trung Á, Âu Châu, Nam Mỹ… Ðối với các cộng đồng di dân khắp nơi, bài Arirang là chất keo kết nối họ với nhau thành một khối. Thậm chí khi Ðại Hàn bị phân chia thành Nam và Bắc Hàn, Arirang vẫn được cả hai miền coi như bài quốc nhạc chung. Tại Thế Vận Hội Mùa Hè năm 2000 ở Sydney, Úc, hai phái đoàn lực sĩ Nam và Bắc Hàn đã tiến vào vận động trường chung dưới một lá cờ có hình bán đảo Triều Tiên, và bài Arirang đã được phát thanh trên các loa để chào đón họ. Tại giải túc cầu quốc tế World Cup 2002 do Nhật và Nam Hàn đồng tổ chức, Arirang cũng đã được dùng để đón chào đội tuyển Bắc Hàn mỗi khi họ chơi trên đất Nam Hàn. Và mới đây nhất, Arirang một lần nữa đã được dùng tại giải Thế Vận Hội Mùa Ðông tổ chức ở Nam Hàn. Lần ấy nếu như đội tuyển Hockey nữ của Ðại Hàn (gồm lực sĩ của cả hai miền) mà thắng huy chương Vàng thì bài Arirang sẽ được dùng như bài “quốc ca”. Rất tiếc việc đó đã không thành vì Hockey không phải là… nghề của mấy nàng.

arirang-linh-hon-cua-nguoi-dai-han1
Hình bìa phim “Arirang”, 1926

Tuy nhiên, Arirang vẫn là một giai điệu được nhiều nhạc sĩ quốc tế yêu thích và trình bày. Như đại danh ca Nat King Cole của Mỹ, hay nhạc sĩ Pete Seeger—người từng giới thiệu Phạm Duy đến công chúng Hoa Kỳ trong thập niên 60. Dàn nhạc đại hoà tấu New York Philharmonic cũng đã chơi bài này tại Bình Nhưỡng trong chuyến công du Bắc Hàn năm 2008, với sự hiện diện của Kim Jong Il lúc ông ta còn sống. Ngoài ra Arirang còn được thể hiện qua những phong cách mới mẻ như jazz, rock và pop.

Trong bốn buổi lễ khai mạc và bế mạc giải Olympics và Paralympics Mùa Ðông tại PyeongChang 2018, khán giả đã được thưởng thức bài Arirang qua nhiều kiểu khác nhau. Nào là dân ca cổ điển, nào là ca đoàn thiếu nhi. Nào là nhạc điện tử, rồi thì heavy metal rock. Tất nhiên không thể thiếu các vũ công nhảy múa bài Arirang được chế biến theo điệu K-Pop. Nhưng gây ấn tượng nhất có lẽ là phần cuối buổi lễ bế mạc giải Paralympics, khi một ban nhạc rock với cậu bé thần đồng 13 tuổi đánh guitar điện đã chơi bài Arirang cực kỳ bốc lửa. Ðã vậy, một nữ nhạc sĩ với cây kèn cổ nhạc lạ mắt còn rót thêm vào đó những âm bậc vừa kỳ dị vừa êm tai, như thể một cuộc vui ma quái không ai muốn thấy chấm dứt.

Phải công nhận Arirang đúng là một bản dân nhạc muôn hình vạn trạng, có thể dùng cho nhiều trường hợp khác nhau mà vẫn giữ được cái tinh thần cũng như tinh hoa của cả một dân tộc. Không biết người Việt mình có được bài dân ca nào với những đặc tính tương tự hay chăng?

arirang-linh-hon-cua-nguoi-dai-han
Nhạc sĩ dân ca Pete Seeger với bài Arirang

IB

SHARE

NO COMMENTS

LEAVE A REPLY